Bài giảng1.1 Chương 1 – Tổng quan về hạch toán kế toán

1.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HẠCH TOÁN

Hạch toán ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất hàng hóa, kế toán đã có sự phát triển mới, những nguyên lý kế toán kép ra đời (do nhà toán học Ý Luca Pacioli trình bày trong các tác phẩm xuất bản tại Rome vào khoảng từ năm 1491 – 1495). Từ đó đến nay, nền văn minh nhân loại đã có những bước tiến bộ vượt bậc, các hoạt động kinh tế, tài chính, ngân hàng, ngoại thương,… ngày càng phát triển đa dạng, với quy mô ngày càng lớn, và tất nhiên kế toán phải luôn được hoàn thiện và phát triển, kế toán trở thành một môn khoa học với hệ thống các phương pháp khoa học của nó để ghi chép, thu nhận, kiểm tra, xử lý và cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính xảy ra, nhằm phục vụ kịp thời việc cung cấp thông tin cần thiết cho việc đưa ra các quyết định kinh tế.

Trong hoạt động sản xuất, con người luôn quan tâm đến các hao phí phải bỏ ra & những kết quả nhận được; điều này đặt ra yêu cầu là phải quản lý các hoạt động sản xuất. Sự quan tâm của con người đến sản xuất được biểu hiện thông qua việc thực hiện các hoạt động quan sát, đo lường, tính toán, ghi chép các hoạt động kinh tế xảy ra trong quá trình sản xuất nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả của quá trình sản xuất được gọi là hạch toán.
Để quản lý hoạt động sản xuất (ngày nay gọi là hoạt động kinh tế) con người cần phải có thông tin về quá trình hoạt động kinh tế; mà để có thông tin thì đòi hỏi phải thực hiện việc quan sát, đo lường, tính toán và ghi chép các hoạt động kinh tế. Do vậy:

  • Quan sát: là hoạt động đầu tiên của việc phản ánh và giám sát các hoạt động kinh tế.
  • Đo lường: là biểu hiện của những đối tượng đó bằng các đơn vị đo lường thích hợp.
  • Tính toán: là quá trình sử dụng các phép tính, các phương pháp tổng hợp, phân tích để xác định các chỉ tiêu kinh tế cần thiết; mục đích là để biết được tình hình thực hiện các mục tiêu của các quá trình kinh tế.
  • Ghi chép: là việc hệ thống hoá, ghi lại tình hình & kết quả của hoạt động kinh tế.

Tóm lại việc quan sát, đo lường, tính toán, ghi chép nêu trên nhằm thực hiện chức năng phản ánh và giám sát các hoạt động kinh tế gọi là hạch toán; qua hạch toán sẽ cung cấp thông tin cho quản lý gọi là thông tin hạch toán. Và theo Luật kế toán Việt Nam: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”.

1.2. CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH HẠCH TOÁN

Như vậy, rõ ràng kế toán hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hóa, nó tồn tại tất yếu khách quan trong nền kinh tế hàng hóa. Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế hàng hóa, kế toán không ngừng hoàn thiện về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức. Sự phát triển đó đã dẫn đến sự hình thành 3 loại hạch toán là: hạch toán nghiệp vụ, hạch toán thống kê, hạch toán kế toán.

1.2.1. Hạch toán nghiệp vụ

Hạch toán nghiệp vụ là sự quan sát, phản ánh & kiểm tra trực tiếp từng nghiệp vụ, từng quá trình kinh tế cụ thể nhằm phục vụ cho việc quản lý, chỉ đạo một cách kịp thời đối với các nghiệp vụ, các quá trình kinh tế. Hạch toán nghiệp vụ sử dụng các thước đo hết sức đơn giản như: bằng điện thoại, bằng chứng từ, fax,… và hạch toán nghiệp vụ không dùng một loại thước đo nào cố định, mà tuỳ thuộc vào từng đối tượng cụ thể sẽ dùng thước đo thích hợp. Thông tin hạch toán nghiệp vụ có đặc điểm là thông tin nhanh, sử dụng cho lãnh đạo nghiệp vụ hàng ngày; nó quan tâm đến tính kịp thời và quá trình xử lý, tổng hợp thông tin.

1.2.2. Hạch toán thống kê

Hạch toán thống kê là một môn khoa học nghiên cứu mối liên hệ về mặt lượng với mặt chất của các hiện tượng kinh tế xã hội số lớn nhằm rút ra quy luật, bản chất trong sự phát triển của các hiện tượng. Hạch toán thống kê là một môn khoa học độc lập, có đối tượng và hệ thống
phương pháp nghiên cứu riêng.

Hạch toán thống kê có những đặc điểm sau:

+ Phạm vi nghiên cứu rộng, không chỉ nghiên cứu các hoạt động kinh tế mà cả các hoạt động khác về quan hệ sản xuất & đời sống xã hội.
+ Thông tin của hạch toán thống kê nhằm rút ra bản chất, cũng như tính quy luật của các hiện tượng kinh tế xã hội.

1.2.3. Hạch toán kế toán

Hạch toán kế toán là môn khoa học thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin về tài sản và nguồn hình thành tài sản, cùng với sự vận động của tài sản trong các tổ chức, đơn vị. Hạch toán kế toán là môn khoa học độc lập, có đối tượng & phương pháp nghiên cứu riêng như: phương pháp chứng từ, phương pháp tính giá, phương pháp đối ứng tài khoản, phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán.
Hạch toán kế toán sử dụng 3 loại thước đo để cung cấp thông tin cho quản lý trong một đơn vị, trong đó thước đo giá trị là thước đo bắt buộc phải có trong ghi chép & tổng hợp của hạch toán kế toán.
Thông tin hạch toán kế toán có những đặc điểm sau:

– Nó phản ánh một cách thường xuyên, liên tục & có hệ thống về đối tượng nghiên cứu.
– Thông tin hạch toán kế toán luôn là những thông tin có tính 2 mặt: tài sản – nguồn hình thành tài sản, thu – chi, hoặc tăng – giảm.
– Mỗi thông tin thu được của hạch toán kế toán đều là kết quả của quá trình thông tin kết hợp với kiểm tra; chính điều này đã làm cho hạch toán kế toán có 2 chức năng cơ bản là thông tin và kiểm tra.

1.3. HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TRONG HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ
1.3.1. Vai trò của kế toán

Kế toán là công cụ phục vụ đắc lực cho quản lý kinh tế, tài chính, có vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế, tài chính. Vai trò của kế toán được khẳng định xuất phát từ nhu cầu sử dụng thông tin trong việc ra các quyết định kinh tế và chức năng của kế toán.

Để tổ chức và quản lý các hoạt động kinh tế trong từng đơn vị cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân ngày càng mang lại hiệu quả kinh tế cao, các nhà quản lý kinh tế cần nắm bắt đầy đủ, kịp thời và có hệ thống thông tin về tất cả các hoạt động kinh tế, tài chính đã được thực hiện để làm cơ sở cho việc ra các quyết định kinh tế. Với chức năng, nhiệm vụ của mình, bằng việc sử dụng một hệ thống các phương pháp khoa học, kế toán thực hiện thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời và có hệ thống, đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ cho công tác quản lý của đơn vị và của nhà nước.

Nền sản xuất xã hội càng phát triển, yêu cầu và trình độ quản lý ngày càng cao, kế toán càng khẳng định được vai trò là công cụ phục vụ đắc lực cho quản lý kinh tế, tài chính, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông và trao đổi hàng hóa. Nền kinh tế với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, các loại hình và đơn vị kinh tế không những ngày càng nhiều về số lượng mà còn không ngừng mở rộng qui mô và phạm vi hoạt động. Trên lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt không những với các doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Trong điều kiện đó, để có thể cạnh tranh, tồn tại và phát triển các đơn vị phải xác định mục tiêu hoạt động phù hợp với năng lực và trình độ của mình, chủ động trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài sản, tiền vốn nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. Muốn vậy, đòi hỏi các đơn vị phải tổ chức thu nhận đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời thông tin về tình hình và kết quả hoạt động kinh tế để từ đó đề ra các quyết định kinh tế phù hợp, kịp thời và hữu hiệu. Trong cơ chế đó,vai trò của kế toán ngày càng phát huy tác dụng, là công cụ không thể thiếu trong công tác quản lý của từng đơn vị kinh tế nói riêng và nền kinh tế xã hội nói chung.

Vai trò của kế toán trong nền kinh tế được biểu hiện cụ thể sau:

Đối với doanh nghiệp

– Kế toán cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quản lý tài sản, tình hình và kết quả hoạt động kinh tế, từ đó giúp nhà quản lý đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm khai thác, sử dụng hợp lý tài sản đem lại hiệu quả kinh tế cao; đồng thời có biện pháp ngăn ngừa kịp thời các hành vi có thể tổn hại đến tài sản của đơn vị.
– Kế toán cung cấp thông tin phục vụ cho việc phân tích hiệu quả của công tác quản lý; phát hiện và khắc phục kịp thời những thiếu sót, đề ra những biện pháp quản lý hữu hiệu hơn nhằm đảm bảo sức cạnh tranh trên thị trường.
– Kế toán cung cấp thông tin cho các đối tượng quan tâm ở bên ngoài doanh nghiệp nhằm mở rộng mối quan hệ kinh tế, thu hút vốn đầu tư, liên doanh, liên kết với các đơn vị khác, mở rộng phạm vị hoạt động để kinh doanh có hiệu quả hơn.

Đối với Nhà nước

– Kế toán cung cấp thông tin để thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đối với hoạt động kinh tế của đơn vị nhằm đảm bảo kinh
doanh đúng pháp luật, cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của nhà nước, chịu sự chi phối và quản lý của Nhà nước.
– Kế toán giúp nhà nước theo dõi, tổng hợp số liệu kinh tế, tài chính các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp, các ngành sản xuất,…Qua đó, đánh giá sự phát triển của từng ngành kinh tế cụ thể cũng như sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Nhờ đó, nhà nước có các chính sách, quyết định về kinh tế phù hợp với sự phát triển của đất nước.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay – nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, được quản lý theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của nhà nước, đòi hỏi hệ  thống kế toán không ngừng đổi mới và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu quản lý các hoạt động kinh tế của các đơn vị và của Nhà nước cũng như phù hợp với các thông lệ, chuẩn mực kế toán quốc tế.

1.3.2. Yêu cầu của hạch toán kế toán trong hệ thống thông tin quản lý

Để thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình, công tác kế toán phải đáp ứng những yêu cầu sau:

  • Phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính;
  • Phản ánh kịp thời, đúng thời gian quy định thông tin, số liệu kế toán;
  • Phản ánh rõ ràng, dễ hiểu và chính xác thông tin, số liệu kế toán;
  • Phản ánh trung thực hiện trạng, bản chất sự việc, nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế, tài chính;
  • Thông tin, số liệu kế toán phải được phản ánh liên tục từ khi phát sinh đến khi kết thúc hoạt động kinh tế, tài chính, từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động của đơn vị kế toán; số liệu kế toán phản ánh kỳ này phải kế tiếp theo số liệu kế toán của kỳ trước;
  • Phân loại, sắp xếp thông tin, số liệu kế toán theo trình tự, có hệ thống và có thể so sánh được.

1.4. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC KẾ TOÁN

Những khái niệm và nguyên tắc của kế toán là những qui định và chỉ dẫn làm căn cứ cho việc tiến hành công tác kế toán và lập các báo cáo tài chính. Sau đây chỉ trình bày một số khái niệm và nguyên tắc kế toán chủ yếu.

1.4.1. Một số khái niệm

– Thực thể kinh doanh: Đơn vị kế toán là đơn vị kinh tế nắm trong tay các tiềm năng và tiến hành các hoạt động kinh doanh. Đó là đơn vị ghi chép tổng hợp và báo cáo kế toán, kế toán và báo cáo của nó là của một thực thể, một tổ chức.
– Thước đo tiền tệ: Thước đo tiền tệ là đơn vị tính toán đồng nhất, ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, và kế toán chỉ phản ảnh những gì có thể biểu hiện bằng tiền.
– Kỳ kế toán: là khoảng thời gian xác định từ thời điểm đơn vị kế toán bắt đầu ghi sổ kế toán đến thời điểm kết thúc việc ghi sổ kế toán, khóa sổ kế toán để lập báo cáo tài chính.

1.4.2. Một số nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận

Nguyên tắc cơ sở dồn tích 

Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí,… phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của đơn vị trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Nguyên tắc hoạt động liên tục

Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là đơn vị đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động bình thường trong tương lai gần, nghĩa là đơn vị không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình. Trường hợp thực tế khác với giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trên một cơ sở khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính.

Nguyên tắc giá gốc

Tài sản của các đơn vị phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể.

Nguyên tắc phù hợp

Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó.

Nguyên tắc nhất quán

Các chính sách và phương pháp kế toán đơn vị đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.

Nguyên tắc thận trọng

Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:
– Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn;

– Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;
– Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;
– Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí.

Nguyên tắc trọng yếu

Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính. Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính.

1.5. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA HẠCH TOÁN KẾ TOÁN
1.5.1. Đối tượng chung của kế toán

Đối tượng của mọi môn khoa học kinh tế đều nghiên cứu về quá trình tái sản xuất mở rộng nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền sản xuất xã hội, trong đó mỗi môn khoa học nghiên cứu trên một góc độ riêng. Trong quá trình sản xuất, tài sản của các đơn vị vận động không ngừng qua các giai đoạn khác nhau, qua mỗi giai đoạn vận động, tài sản của các đơn vị không những biến đổi về mặt hình thức mà còn biến đổi cả về giá trị.

Với tư cách là một công cụ quản lý kinh tế quan trọng, với chức năng thông tin và kiểm tra, kế toán giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý tài sản, thông tin do kế toán cung cấp sẽ giúp nhà quản lý biết được tài sản của đơn vị theo từng loại, tổng số, đánh giá được tình hình trang bị và sử dụng, biết được tài sản của mình được hình thành từ đâu, bằng cách nào và xác định rõ trách nhiệm của mình đối với Nhà nước, ngân hàng, cổ đông, người cung cấp,…, về số tài sản được hình thành từ nguồn vốn của họ. Đồng thời thông qua chức năng thông tin và kiểm tra của mình, kế toán giúp cho nhà quản lý nắm được một cách kịp thời, đầy đủ về quá trình cũng như kết quả của sự vận động tài sản trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế của đơn vị, là cơ sở để phân tích và đánh giá hiệu quả của quá trình vận động ấy. Cụ thể:

– Hạch toán kế toán nghiên cứu các yếu tố của quá trình tái sản xuất dưới góc độ tài sản & nguồn hình thành của các tài sản đó.
– Hạch toán kế toán không chỉ nghiên cứu tài sản trong trạng thái tĩnh mà còn nghiên cứu trạng thái động của tài sản trong quá trình kinh doanh.
– Hạch toán kế toán không chỉ nghiên cứu các tài sản của đơn vị mà còn nghiên cứu cả những tài sản phát sinh từ mối quan hệ pháp lý ngoài vốn như: thuê ngoài, nhận
gia công, nhận bán hộ…
– Phạm vi nghiên cứu của hạch toán kế toán không chỉ là tài sản trong đơn vị sản xuất kinh doanh mà còn trong các đơn vị hành chính sự nghiệp & các tổ chức xã hội khác.

1.5.2. Biểu hiện cụ thể của đối tượng nghiên cứu trong hạch toán kế toán

Trong nền kinh tế xã hội, các đơn vị thuộc các loại hình kinh tế khác nhau đảm nhận các khâu khác nhau trong quá trình tái sản xuất xã hội và có vai trò, chức năng, nhiệm vụ khác nhau đối với nền kinh tế. Vì thế, tài sản và quá trình vận động của tài sản trong các loại hình đơn vị cũng có những điểm không giống nhau. Việc nghiên cứu đối tượng kế toán sẽ trở nên vô cùng phức tạp và không thể thực hiện được khi sắp xếp các loại hình đơn vị kinh tế phù hợp với các giai đoạn khác nhau của quá trình tái sản xuất xã hội để lần lượt nghiên cứu.

Do vậy, để nghiên cứu đối tượng của kế toán chỉ có thể chọn một loại hình đơn vị mà ở đó nó thể hiện tương đối đầy đủ các khâu khác nhau của quá trình tái sản xuất và từ đó suy rộng cho các loại hình đơn vị khác. Rõ ràng, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh là loại hình đơn vị biểu hiện tương đối đầy đủ các khâu khác nhau của quá trình tái sản xuất, nên việc lựa chọn doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh để nghiên cứu đối tượng của kế toán và từ đó suy rộng cho các loại hình đơn vị khác là hợp lý nhất.

1.5.2.1. Tài sản của các đơn vị sản xuất kinh doanh là đối tượng của kế toán

Như phần trên đã trình bày, để tiến hành hoạt động đơn vị sản xuất kinh doanh hay bất kỳ đơn vị nào đòi hỏi phải có một lượng tài sản nhất định và được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ. Mặt khác, tài sản của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Vì vậy, để phục vụ cho công tác quản lý và kế toán tài sản của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cần phải được phân loại theo hình thái biểu hiện và nguồn hình thành tài sản.

Theo hình thái biểu hiện (hình thái giá trị) kết hợp với tính chất luân chuyển của tài sản, toàn bộ tài sản của đơn vị được chia làm 2 loại: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.

a) Tài sản ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp có thời hạn sử dụng, luân chuyển, thu hồi trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp, gồm: tiền, các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác.

– Tiền và các khoản tương đương tiền: Là toàn bộ số tiền và các khoản tương đương tiền hiện có của doanh nghiệp, gồm:

+ Tiền là toàn bộ số tiền hiện có của doanh nghiệp, gồm: Tiền mặt tại quĩ của doanh nghiệp, tiền gửi ngân hàng (không kỳ hạn), vàng, bạc và tiền đang chuyển;
+ Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo.

– Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: Là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn có thời hạn thu hồi vốn dưới 1 năm hoặc trong một chu kỳ kinh, bao gồm chứng khoán kinh doanh và đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn, dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh và đầu tư nắm giữ.
– Các khoản phải thu ngắn hạn: Là toàn bộ giá trị của các khoản phải thu khách hàng, khoản trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, và các khoản phải thu khác tại thời điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh.
– Hàng tồn kho: Là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường; đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang; vật liệu, công cụ dụng cụ để sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ, bao gồm: hàng mua đang đi trên đường; nguyên liệu, vật liệu; công cụ, dụng cụ; chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang; thành phẩm; hàng hóa; hàng gửi đi bán; hàng hóa kho bảo thuế.
– Tài sản ngắn hạn khác: Là các khoản chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT còn được khấu trừ, các khoản thuế phải thu và tài sản ngắn hạn khác tại thời điểm báo cáo. Tài sản ngắn hạn khác bao gồm:
+ Chi phí trả trước ngắn hạn: Phản ánh số tiền đã thanh toán cho một số khoản chi phí nhưng đến cuối kỳ kế toán chưa được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh của kỳ báo cáo;

+ Thuế GTGT được khấu trừ: phản ánh các khoản thuế GTGT còn được khấu trừ và số thuế GTGT còn được hoàn lại đến cuối năm báo cáo;
+ Thuế và các khoản phải thu Nhà nước: Phản ánh thuế thu nhập doanh nghiệp nộp thừa cho Nhà nước tại thời điểm lập báo cáo và các khoản khác phải thu nhà nước;
+ Tài sản ngắn hạn khác: Phản ánh giá trị tài sản ngắn hạn khác, bao gồm: Số tiền tạm ứng còn nợ công nhân viên chưa thanh toán, các khoản cầm cố, ký quỹ, ký cược, tài sản thiếu chờ xử lý tại thời điểm báo cáo.

b) Tài sản dài hạn

Tài sản dài hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp có thời hạn sử dụng, luân chuyên, thu hồi trên một năm hoặc trên một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp, bao gồm: các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác.
– Các khoản phải thu dài hạn: Là toàn bộ giá trị của các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn, các khoản phải thu dài hạn khác và số vốn đã giao cho các đơn vị trực thuộc, tại thời điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên một năm hoặc trên một chu kỳ kinh doanh.
Tài sản cố định: Là những tư liệu lao động chủ yếu và những tài sản khác có giá trị lớn, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, kinh doanh và giá trị của nó được chuyển dịch dần vào giá trị sản phẩm, dịch vụ được sản xuất ra trong các chu kỳ sản xuất, bao gồm:
+ Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định hữu hình như: nhà cửa, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật kiến trúc, vườn cây lâu năm,…. Tiêu chuẩn để xếp một tư liệu lao động thuộc tài sản cố định hữu hình hay công cụ, dụng cụ thường không ổn định, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định.
+ Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định vô hình, như: Quyền sử dụng đất, quyền phát hành, bản quyền, bằng sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa….

+ Tài sản cố định thuê tài chính: Là các tài sản cố định đi thuê mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê. Quyền sở hữu có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê.
Bất động sản đầu tư: Là bất động, bao gồm: Quyền sử dụng đất, nhà, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường.
– Các khoản đầu tư tài chính dài hạn: Là các khoản vốn mà doanh nghiệp bỏ ra để góp vốn liên doanh, liên kết, đầu tư vào công ty con,…, với mục đích kiếm lời mà thời hạn thu hồi vốn đầu tư trên một năm hoặc trên một chu kỳ kinh doanh.
– Tài sản dài hạn khác: Bao gồm chi phí trả trước dài hạn nhưng chưa phân bổ vào chi phí sản xuất, kinh doanh đến cuối kỳ báo cáo, tài sản thuế thu nhập hoãn lại, và tài sản dài hạn khác,…

Bên cạnh việc xem xét tài sản của đơn vị theo hình thái giá trị kết hợp với tính chất luân chuyển của tài sản, kế toán còn xem xét tài sản theo nguồn hình thành của tài sản. Việc xem xét này sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin biết được tài sản của đơn vị được hình thành từ đâu, từ đó có cơ sở để đánh giá thực trạng tài chính của đơn vị cũng như xác định trách nhiệm của đơn vị đối với việc quản lý và sử dụng số tài sản hiện có, hoàn trả, ….

Theo cách phân loại này toàn bộ tài sản của đơn vị được hình thành từ hai nguồn: nguồn vốn chủ sở hữu và khoản nợ phải trả.

a. Nguồn vốn chủ sở hữu:

Là nguồn vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp khi mới thành lập doanh nghiệp và được bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh. Tùy theo loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần …) mà tính cụ thể của nguồn thành tài sản cũng khác nhau. Tuy vậy, có thể chia nguồn vốn chủ sở hữu thành các loại sau :

– Nguồn vốn kinh doanh: Là số vốn mà đơn vị dùng vào mục đích kinh doanh và do các thành viên tham gia thành lập doanh nghiệp đóng góp. Số vốn này có thể bổ sung hoặc giảm bớt trong quá trình kinh doanh.
– Lợi nhuận chưa phân phối sau thuế (lãi lưu giữ): Là phần chênh lệch giữa một bên là toàn bộ doanh thu của các hoạt động kinh doanh với một bên là toàn bộ chi phí của hoạt động kinh doanh. Theo chế độ hiện hành, phần lợi nhuận này được phân phối cho các mục đích như chia cho các bên tham gia liên doanh, cổ đông, trích lập các quỹ,… nhưng trong khi chưa phân phối, số lợi nhuận này được sử dụng vào mục đích hoạt động sản xuất, kinh doanh và được coi như là một nguồn vốn chủ sở hữu.
– Nguồn vốn chuyên dùng: Là nguồn vốn được qui định cho mục đích chuyên dùng nhất định như dùng xây dựng cơ bản, quĩ đầu tư phát triển,…. đây là số nguồn vốn có gốc từ lợi nhuận để lại hay được cấp, viện trợ, được bổ sung,….
– Nguồn vốn chủ sở hữu khác: Nguồn vốn chủ sở hữu khác là nguồn vốn có nguồn gốc hình thành từ tài sản doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh do nguyên nhân khách quan tạo ra như do giá cả biến động, do tỷ giá ngoại tệ thay đổi theo chiều hướng tăng. Thuộc nguồn vốn này thường bao gồm: Chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá.
– Nguồn kinh phí và quĩ khác: Bao gồm tổng số kinh phí sự nghiệp được cấp để chi tiêu cho các hoạt động ngoài kinh doanh sau khi trừ đi các khoản chi bằng nguồn kinh phí được cấp; nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ.

b. Nợ phải trả:

Là số tiền vốn mà doanh nghiệp đi vay, đi chiếm dụng của đơn vị, tổ chức, cá nhân khác và do vậy doanh nghiệp phải có trách nhiệm phải trả, phải thanh toán. Tùy theo tính chất từng khoản nợ và thời gian thanh toán toàn bộ công nợ phải trả được chia thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.

– Nợ ngắn hạn: Là khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán
trong vòng một năm hoặc trong một chu kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường. Theo tính chất các khoản nợ, nợ ngắn hạn chia làm 2 loại :
+ Nợ tín dụng: Là khoản nợ mà khi trả phải trả cả vốn lẫn lãi, bao gồm các khoản vay ngắn hạn.
+ Nợ chiếm dụng: Là các khoản nợ mà đơn vị chiếm dụng của các cá nhân và tổ chức khác theo luật định, phát sinh trong quá trình mua, bán mà không phải trả lãi khi thanh toán, bao gồm: khoản phải trả cho người bán, phải trả cho người lao động, thuế và các khoản phải nộp cho nhà nước, các khoản phải trả khác, dự phòng phải trả ngắn hạn, chi phí phải trả….

– Nợ dài hạn: Là các khoản nợ mà các đơn vị phải có trách nhiệm thanh toán với thời hạn trên một năm hay trên một chu kỳ kinh doanh, chia làm 2 loại:
+ Nợ tín dụng: Vay dài hạn, vay trung hạn;
+ Nợ chiếm dụng: Các khoản nhận ký quĩ ký cược dài hạn, phải trả người bán, người nhận thầu trên một năm, thuế thu nhập hoãn lại phải trả, dự phòng trợ cấp mất việc làm, dự phòng phải trả dài hạn.

Như vậy, giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản chỉ là hai mặt khác nhau của một tài sản chứ không phải là hai tài sản riêng biệt. Giá trị tài sản biểu hiện trạng thái cụ thể của tài sản, phản ảnh cái đang có, đang tồn tại trong đơn vị. Nguồn hình thành tài sản biểu hiện mặt trừu tượng của tài sản, nó cho biết tài sản được hình thành từ đâu. Một tài sản có thể được tài trợ từ một hay nhiều nguồn khác nhau, ngược lại, một nguồn có thể tham gia vào việc hình thành một hay nhiều tài sản. Về mặt lượng, tổng giá trị tài sản bao giờ cũng bằng tổng nguồn hình thành tài sản.
Từ phân tích trên ta có phương trình kế toán cơ bản:

Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn

Hay: Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn = Nguồn vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả

Suy ra: Nguồn vốn chủ sở hữu = Tài sản – Nợ phải trả.

1.5.2.2. Sự vận động của tài sản là đối tượng của kế toán
Trong quá trình tái sản xuất, tài sản của doanh nghiệp vận động không ngừng qua các giai đoạn khác nhau, mỗi giai đọan của sự vận động, tài sản của đơn vị không những biến đổi về mặt hình thái tồn tại mà còn biến đổi về mặt giá trị. Tùy thuộc các lĩnh vực hoạt động kinh doanh như sản xuất, phân phối, lưu thông, tài sản của doanh nghiệp vận động qua các giai đoạn có khác nhau.

Trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, tài sản của đơn vị thường vận động qua ba giai đoạn: giai đoạn mua hàng, giai đoạn sản xuất và giai đoạn bán hàng.

– Giai đoạn mua hàng: Trong giai đoạn này đơn vị bỏ tiền ra mua sắm vật tư, tài sản để chuẩn bị cho sản xuất và do đó tài sản của đơn vị chuyển từ hình thái tiền tệ sang hiện vật.
– Giai đoạn sản xuất: Trong giai đoạn này đơn vị sử dụng các loại nguyên vật liệu, tư liệu lao động, sức lao động để tạo ra sản phẩm theo mục đích đã định. Trong giai đoạn này tài sản của đơn vị biến đổi về mặt hình thái hiện vật này sang hình thái hiện vật khác.
– Giai đoạn bán hàng: Giai đoạn này đơn vị xuất kho thành phẩm, hàng hóa chuyển cho người mua để thu về một lượng tiền tương ứng và do đó tài sản của đơn vị biến đổi từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ.

Như vậy, trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản của doanh nghiệp vận động không ngừng và thường xuyên biến đổi cả về hình thái hiện vật và giá trị. Để đạt được mục tiêu là lợi nhuận, nâng cao hiệu quả kinh tế của quá trình tái sản xuất, cần thiết phải thông tin kịp thời, đầy đủ về quá trình vận động của tài sản, đây chính là một phần nội dung công việc của kế toán. Hay nói cách khác, quá trình vận động của tài sản trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị là đối tượng của kế toán.

Khác với hoạt động sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất, trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại với chức năng cơ bản là mua, bán hàng hóa. Để tiến hành hoạt động, các doanh nghiệp thương mại cũng cần có một khối lượng tài sản (tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn) tương xứng với qui mô hoạt động của từng đơn vị. Thông thường tỷ trọng tài sản cố định trong tổng số tài sản của các đơn vị kinh doanh thương mại nhỏ hơn so với các đơn vị sản xuất.

Trong quá trình hoạt động kinh doanh tài sản của doanh nghiệp thương mại chỉ vận động qua hai giai đoạn là giai đoạn mua hàng và giai đoạn bán hàng.

Ở giai đoạn mua hàng: Tài sản từ hình thái tiền tệ chuyển thành hàng hóa dự trữ cho quá trình bán hàng, ở giai đoạn bán hàng: tài sản là hàng hóa được đưa đi bán để thu hồi tiền hàng, số tiền thu về cũng phải đảm bảo bù đắp chi phí và có lãi.

Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp: Đơn vị hành chính sự nghiệp là các đơn vị thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, sự nghiệp y tế, văn hóa, giáo dục, sự nghiệp khoa học công nghệ, sự nghiệp kinh tế, ….

Để tiến hành các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ đã được nhà nước giao, các đơn vị hành chính sự nghiệp cần có một khối lượng tài sản nhất định. Tài sản của các đơn vị hành chính sự nghiệp chủ yếu là do ngân sách nhà nước cấp, bao gồm: tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.

Tài sản dài hạn trong đơn vị hành chính sự nghiệp chủ yếu là nhà cửa và các thiết bị phục vụ cho hoạt động chuyên môn của đơn vị. Tài sản ngắn hạn trong đơn vị hành chính sự nghiệp chủ yếu là vật liệu, dụng cụ phục vụ cho hoạt động chuyên môn của đơn vị và các khoản chi cho hoạt động chuyên môn chưa được quyết toán, chưa duyệt.

Quá trình vận động của tài sản trong quá trình hoạt động của các đơn vị hành chính sự nghiệp là quá trình chi tiêu các loại tài sản phục vụ cho hoạt động chuyên môn của đơn vị. Nguyên tắc cơ bản trong chi tiêu của các đơn vị hành chính sự nghiệp là không bồi hoàn trực tiếp các khoản đã chi (trừ đơn vị sự nghiệp có hoạt động sự nghiệp có thu). Mọi khoản chi trong các đơn vị hành chính sự nghiệp đều phải theo dự toán và tuân thủ theo các qui định của chế độ tài chính hiện hành của Nhà nước. Biểu hiện cụ thể của đối tượng kế toán trong các đơn vị hành chính sự nghiệp có thể tóm tắt như sau:

– Tiền và các khoản tương đương tiền;
– Vật tư và tài sản cố định;
– Nguồn kinh phí, quỹ;
– Các khoản thanh toán trong và ngoài đơn vị kế toán;
– Thu, chi và xử lý chênh lệch thu, chi hoạt động;
– Đầu tư tài chính, tín dụng nhà nước;
– Các tài sản khác có liên quan đến đơn vị kế toán.

1.6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA HẠCH TOÁN KẾ TOÁN

Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, kế toán sử dụng hệ thống các phương pháp khoa học như: phương pháp chứng từ kế toán, phương pháp tài khoản kế toán, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp – cân đối kế toán.

– Phương pháp chứng từ kế toán: Là phương pháp kế toán phản ánh các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và thật sự hoàn thành theo thời gian và địa điểm phát sinh nghiệp vụ đó vào các bản chứng từ kế toán và sử dụng các bảng chứng từ đó phục vụ cho công tác kế toán và công tác quản lý kinh tế tài chính.
– Phương pháp đối ứng tài khoản kế toán: Là phương pháp kế toán phân loại các đối tượng kế toán để phản ánh và kiểm tra một cách thường xuyên, liên tục và có hệ thống tình hình và sự vận động của từng đối tượng kế toán riêng biệt.
– Phương pháp tính giá: Là phương pháp kế toán sử dụng thước đo tiền tệ để tính toán xác định trị giá của các đối tượng kế toán theo những yêu cầu và nguyên tắc nhất định.
– Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán: Là phương pháp kế toán mà việc thiết kế và sử dụng các bảng tổng hợp – cân đối được dựa trên cơ sở các mối quan hệ cân đối vốn có của kế toán để tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế, tài chính cần thiết nhằm cung cấp thông tin cho việc điều hành, quản lý các hoạt động kinh tế của đơn vị và những người có lợi ích nằm ngoài đơn vị.

Các phương pháp kế toán trên có mối liên hệ với nhau, phương pháp này làm tiền đề cho phương pháp kia. Trong thực tiễn công tác kế toán, các phương pháp kế toán trên phải được thực hiện đồng thời trong mối quan hệ hữu cơ của chúng. Lập chứng từ là nhằm thu nhận và cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Phương pháp tính giá nhằm biểu hiện các đối tượng kế toán có liên quan trong nghiệp vụ bằng tiền để làm cơ sở ghi vào tài khoản theo cách ghi đơn hoặc ghi kép bằng phương pháp tài khoản kế toán. Phương pháp tổng hợp – cân đối kế toán nhằm tổng hợp số liệu trên các tài khoản kế toán (sổ kế toán) theo các chỉ tiêu kinh tế- tài chính cần thiết và được biểu hiện trên các báo cáo tài chính.