Bài giảng1.3 Chương 3 – Phương pháp tính giá

3.1. KHÁI QUÁT CHUNG
3.1.1. Khái niệm

Tài sản trong doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau, có thể là tiền, nguyên vật liệu, hàng hóa, nhà xưởng, máy móc thiết bị,… Để ghi nhận sự tồn tại của từng loại, có thể phản ánh bằng nhiều thước đo, chẳng hạn như: thước đo hiện vật (kg, cái,…), thước đo giá trị (VND, USD,…), thước đo lao động (ngày công, giờ công,…).

Mặt khác, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản của đơn vị không ngừng biến đổi về mặt hình thái và giá trị. Do vậy, để có thể ghi nhận và phản ánh các loại tài sản không chỉ theo chỉ tiêu hiện vật mà phải theo dõi cả về mặt giá trị.

Như thế, ngoài những tài sản ngay từ đầu đã biểu hiện dưới hình thái giá trị như: tiền, các khoản phải thu… thì phần lớn các tài sản còn lại phải quy về hình thái giá trị. Điều đó cho thấy sự cần thiết phải hình thành một phương pháp để đánh giá tài sản trong đơn vị theo thước đo giá trị, đó chính là phương pháp tính giá.

Phương pháp tính giá là phương pháp thông tin và kiểm tra về sự hình thành và phát sinh chi phí có liên quan đến từng loại vật tư, sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ. Hay nói cách khác, phương pháp tính giá là việc xác định giá trị ghi sổ của tài sản, tức là dùng thước đo giá trị để biểu hiện các đối tượng kế toán có thước đo khác về thước đo chung nhằm phản ánh, cung cấp các thông tin tổng hợp cần thiết để thực hiện các phương pháp khác của kế toán.

3.1.2. Yêu cầu tính giá

Tính giá đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán. Cụ thể, khi tính giá được thực hiện tốt thì các chỉ tiêu do kế toán cung cấp sẽ được xác định đáng tin cậy sẽ giúp cho người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định kinh doanh hợp lý. Ngược lại, nếu tính giá không hợp lý dẫn đến các thông tin kế toán sẽ không đáng tin cậy có thể dẫn đến những quyết định sai lầm. Do vậy, để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin kế toán, việc tính giá phải đảm bảo các yêu cầu sau:

– Tính xác thực: Việc tính giá các loại tài sản trong đơn vị phải đảm bảo tính chính xác, đầy đủ và phù hợp với các chi phí thực tế liên quan đến tài sản đó. Mỗi loại tài sản khác nhau có đặc điểm hình thành và vận động khác nhau vì thế khi xác định giá của chúng phải dựa trên cơ sở các chứng từ hợp lệ, hợp pháp và cần phải có hệ thống cân đong đo đếm chuẩn xác thì việc tính giá của tài sản mới được xác định một cách chính xác.

– Tính thống nhất: Yêu cầu tính thống nhất ở đây không chỉ trong một đơn vị kinh tế mà đòi hỏi phải có sự thống nhất về phương pháp tính toán giữa các đơn vị khác nhau trong nền kinh tế. Trong một đơn vị, tính thống nhất được hiểu chính là tính nhất quán về phương pháp tính giữa các kỳ kế toán. Khi một phương pháp được lựa chọn để tính giá tài sản thì phải được sử dụng ổn định tương đối trong một số kỳ kế toán nhất định. Như vậy, kết quả tính toán mới đảm bảo tính khách quan trong việc so sánh và đánh giá giữa các kỳ hoạt động khác nhau của đơn vị.

Nếu xem xét trên phạm vi các doanh nghiệp, khi có sự thống nhất về phương pháp tính giá các loại tài sản giữa các doanh nghiệp đều dựa trên những nguyên tắc chung theo các quy định của Nhà nước sẽ đảm bảo khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành, lĩnh vực kinh doanh.

3.1.3 Nguyên tắc tính giá

Để thực hiện được các yêu cầu trên, đòi hỏi khi tính giá các đối tượng phải thực hiện theo một số nguyên tắc cơ bản sau:

3.1.3.1 Nguyên tắc giá gốc

Khi tính giá các loại tài sản của doanh nghiệp phải thực hiện theo nguyên tắc giá gốc. Đối với các tài sản mua ngoài, giá gốc là giá thực tế mà doanh nghiệp đã thanh toán để mua tài sản tại thời điểm mua. Đối với các tài sản do doanh nghiệp sản xuất ra thì giá gốc bao gồm tất cả các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất ra tài sản đó. Căn cứ để xác định giá gốc của mỗi tài sản là các chứng từ phản ánh số tiền hoặc chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có được tài sản đó.

3.1.3.2 Nguyên tắc nhất quán

Để đảm bảo yêu cầu so sánh được của thông tin kế toán giữa các kỳ khác nhau, khi tính giá các loại tài sản đòi hỏi kế toán phải áp dụng các phương pháp tính giá nhất quán đối với mỗi loại tài sản, nhất quán trong việc xác định các chỉ tiêu hình thành giá của từng loại tài sản, nhất quán tiêu thức phân bổ chi phí trong trường hợp các loại chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tính giá,…

3.1.3.3 Nguyên tắc thận trọng

Theo nguyên tắc này, khi tính giá các tài sản phải dựa trên các chứng cứ chắc chắn. Trong trường hợp có nhiều khả năng để lựa chọn thì phải chọn giá thấp nhất. Đây chính là cơ sở của nguyên tắc chọn giá thấp hơn giữa giá gốc và giá thị trường hiện tại

3.1.3.4 Nguyên tắc khách quan

Khi xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp phải dựa trên các bằng chứng tin cậy, khách quan và có thể kiểm tra được. Các bằng chứng được sử dụng để xác định giá trị tài sản thường là các chứng từ phản ánh các chi phí mua đối với tài sản mua ngoài, hoặc chi phí sản xuất đối với các tài sản do doanh nghiệp sản xuất ra. Đối với các tài sản được biếu tặng, trao đổi thì giá trị của chúng được xác định theo giá trị hợp lý của các tài sản tương tự trên thị trường

3.2. TÍNH GIÁ TÀI SẢN MUA NGOÀI

Tài sản mua ngoài của doanh nghiệp gồm nhiều loại, với tính chất và mục đích sử dụng khác nhau, do đó việc tính giá của chúng có những điểm khác biệt nhất định. Các loại nguyên liệu, vật liệu được mua với mục đích sử dụng cho sản xuất, chế tạo sản phẩm và hàng hóa được mua với mục đích để bán. Máy móc thiết bị, nhà xưởng… được mua sắm, xây dựng với mục đích sử dụng lâu dài trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy khác nhau về tính chất và mục đích sử dụng nhưng việc tính giá các tài sản mua ngoài phải phản ánh được tất cả các chi phí phát sinh liên quan đến việc hình thành tài sản.

3.2.1 Khái quát về thuế GTGT
3.2.1.1 Khái niệm

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là một loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

3.2.1.2 Đặc điểm thuế GTGT

Đối tượng chịu thuế GTGT là các hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam.

Đối tượng nộp thuế GTGT là tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT tại Việt Nam và các tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT.

Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ và thuế suất của chính loại hàng hóa, dịch vụ đó. Giá tính thuế được phân biệt cụ thể trong từng trường hợp khác nhau. Hiện nay, thuế suất được quy định có 3 mức là 0%, 5% và 10%.

3.2.1.3 Phương pháp tính thuế GTGT

Thuế GTGT phải nộp được tính theo phương pháp khấu trừ hoặc phương pháp tính trực tiếp trên GTGT.

a) Phương pháp khấu trừ thuế

b) Phương pháp tính trực tiếp trên doanh thu

Đối tượng áp dụng là các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh có doanh thu hàng năm dưới 1 tỷ đồng Việt Nam hoặc chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hóa đơn và chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế.

Số thuế GTGT phải nộp trong trường hợp này được xác định như sau:

Mức thuế suất GTGT tính trên doanh thu được quy định như sau:
+ Phân phối, cung cấp hàng hoá: 1%
+ Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%
+ Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 3%
+ Hoạt động kinh doanh khác: 2%

c) Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT

Đối tượng áp dụng là các đơn vị kinh doanh vàng, bạc, đá quý. Số thuế GTGT phải nộp trong trường hợp này được xác định như sau:

3.2.2. Phương pháp tính giá thực tế tài sản mua vào

– Bước 1: Xác định giá mua của tài sản
Giá mua của tài sản bao gồm giá mua ghi trên hóa đơn trừ các khoản giảm giá hàng mua, chiết khấu thương mại khi mua hàng được hưởng (nếu có) cộng với các khoản thuế không được khấu trừ như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu của tài sản mua vào (nếu có).

– Bước 2: Tập hợp toàn bộ các chi phí phát sinh liên quan đến quá trình thu mua tài sản.

Trong quá trình thu mua tài sản thường phát sinh các chi phí thu mua như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, tiền lương nhân viên thu mua, chi phí liên quan đến kho hàng, bến bãi, hao hụt trong định mức… Nếu các chi phí này có liên quan đến việc thu mua một loại vật tư, hàng hóa và tài sản nào thì tập hợp trực tiếp cho loại vật tư, hàng hóa và tài sản đó. Trường hợp các chi phí này có liên quan đến việc thu mua nhiều loại tài sản khác nhau thì cần phải phân bổ cho từng loại tài sản theo tiêu thức thích hợp. Thông thường, tiêu thức được lựa chọn để phân bổ là: trọng lượng, số lượng, thể tích…

– Bước 3: Tổng hợp chi phí và xác định giá trị thực tế của tài sản mua ngoài Sau khi thực hiện hai bước trên, kế toán sẽ tiến hành tổng hợp các chi phí và tính ra giá trị thực tế của tài sản. Công thức tính như sau:

3.2.2.1. Tính giá vật tư, hàng hóa mua ngoài

Giá trị các loại vật tư, hàng hóa mua ngoài được tính bằng giá mua và các chi phí thu mua trừ đi các khoản giảm giá, chiết khấu thương mại được hưởng (nếu có). Các chi phí thu mua là những chi phí phát sinh để đưa vật tư, hàng hóa về đến kho của doanh nghiệp như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ bảo quản, tiền lưu kho, lưu bãi và các loại thuế, lệ phí…

Ví dụ:

Một doanh nghiệp tiến hành mua sắm một số vật liệu dùng cho sản xuất, gồm:

– Vật liệu X: 20.000 kg, giá mua bao gồm cả thuế GTGT thuế suất 10% là 440.000.000 đồng.
– Vật liệu Y: 50.000 kg với đơn giá mua bao gồm cả thuế GTGT thuế suất 10% là 15.400 đ/kg.

Các chi phí vận chuyển, bốc dỡ số vật liệu trên về nhập kho hết 10.500.000 đồng.

Yêu cầu: Xác định giá trị thực tế của từng loại vật liệu X, Y mua vào trong 2 trường hợp:

– Doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
– Doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp

Để tính giá thực tế của từng loại vật liệu X, Y mua vào, trước hết kế toán phải phân bổ chi phí thu mua cho từng loại theo trọng lượng của từng loại vật liệu mua vào.

+ Trường hợp DN tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp

Giá thực tế vật liệu X nhập kho = 440.000.000 + 3.000.000 = 443.000.000
Giá thực tế vật liệu Y nhập kho = 15.400*50.000 + 7.500.000 = 777.500.000

+ Trường hợp DN tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ

Giá thực tế vật liệu X nhập kho = 400.000.000 + 3.000.000 = 403.000.000
Giá thực tế vật liệu Y nhập kho = 14.000 * 50.000 + 7.500.000 = 707.500.000

3.2.2.2. Tính giá TSCĐ mua ngoài

Giá trị của TSCĐ mua ngoài được xác định gồm giá mua và toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp chi ra để đưa TSCĐ đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng (hay còn gọi là các chi phí trước khi sử dụng TSCĐ). Các chi phí này bao gồm: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử, các loại thuế, lệ phí liên quan không được hoàn lại hoặc khấu trừ,…Giá trị này được hình thành trước khi đưa TSCĐ vào sử dụng nên được gọi là nguyên giá TSCĐ.

Ngoài ra, trong quá trình sử dụng thì giá trị TSCĐ bị hao mòn dần, phần giá trị giảm đi được gọi là giá trị hao mòn, phần còn lại của nguyên giá TSCĐ được gọi là giá trị còn lại. Giá trị này được xác định bằng cách lấy nguyên giá TSCĐ trừ đi (-) giá trị hao mòn lũy kế của từng loại TSCĐ

3.3. TÍNH GIÁ SẢN PHẨM, DỊCH VỤ SẢN XUẤT
3.3.1 Phân loại giá thành sản phẩm, dịch vụ

Dựa vào phạm vi phát sinh chi phí, giá thành sản phẩm và dịch vụ được chia thành:

3.3.1.1 Giá thành sản xuất

Giá thành sản xuất (hay còn gọi là giá thành công xưởng) bao gồm các chi phí liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm phát sịnh tại phân xưởng sản xuất. Các chi phí sản xuất được tính vào giá thành sản xuất gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Trong đó, đặc trưng của từng loại chi phí sản xuất:

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là các chi phí nguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp chế tạo sản phẩm, cung cấp dịch vụ và khi phát sinh được tính trực tiếp cho đối tượng chịu chi phí.

Chi phí nhân công trực tiếp: là các chi phí phát sinh liên quan đến việc sử dụng lao động trực tiếp để chế tạo sản phẩm, cung cấp dịch vụ gồm: tiền lương, tiền công trả cho công nhân trực tiếp sản xuất và các khoản trích theo lương…

Chi phí sản xuất chung: là các chi phí phục vụ sản xuất phát sinh tại phân xưởng sản xuất ngoài hai khoản mục chi phí trực tiếp trên. Chi phí sản xuất chung gồm: các chi phí nguyên vật liệu và chi phí nhân công không thể tính trực tiếp cho đối tượng chịu chi phí, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí điện nước và các chi phí chung khác.

3.3.1.2 Giá thành toàn bộ
Giá thành toàn bộ bao gồm toàn bộ các chi phí liên quan đến khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ. Giá thành toàn bộ (hay còn gọi là giá thành đầy đủ) gồm giá thành sản xuất cộng với chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm đó.

3.3.2 Trình tự tính giá sản phẩm, dịch vụ sản xuất

Việc tính giá thành sản phẩm, dịch vụ sản xuất được thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Tập hợp các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp liên quan đến từng đối tượng tính giá.
Bước 2: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tượng tính giá liên quan.

Đối với các khoản chi phí sản xuất chung liên quan đến nhiều đối tượng, kế toán không thể tính trực tiếp cho từng đối tượng khi phát sinh mà tập hợp riêng đến cuối kỳ tiến hành phân bổ cho các đối tượng liên quan. Các chi phí này được phân bổ dựa trên tiêu thức phổ biến như: tiền lương nhân công trực tiếp sản xuất, chi phí vật liệu chính hoặc số giờ máy chạy…

Công thức phân bổ:

Bước 3: Xác định giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ

Do quá trình sản xuất diễn ra liên tục nên tại thời điểm tính giá thành có thể có một số sản phẩm chưa trải qua giai đoạn chế biến cuối cùng để trở thành thành phẩm, các sản phẩm này được gọi là sản phẩm dở dang và giá trị của chúng được gọi là giá trị sản phẩm dở dang. Để tính được giá thành sản phẩm, người ta cần phải xác định được giá trị của số sản phẩm dở dang này. Thông thường, vào cuối kỳ đơn vị tiến hành kiểm kê xác định số lượng sản phẩm dở dang tại các bộ phận sản xuất và xác định giá trị của chúng theo một trong các phương pháp xác định giá trị sản phẩm dở dang dưới đây

+ Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Theo phương pháp này, giá trị sản phẩm dở dang chỉ bao gồm giá trị nguyên vật liệu trực tiếp đã tiêu hao. Ngoài ra, toàn bộ các chi phí chế biến khác như: chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung được tính hết cho sản phẩm hoàn thành.

Tuy nhiên, theo phương pháp này, nếu tỷ trọng nguyên vật liệu chính chiếm tỷ trọng chủ yếu trong khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì giá trị sản phẩm dở dang có thể chỉ tính là giá trị chi phí nguyên vật liệu chính; còn chi phí nguyên vật liệu phụ tính hết cho thành phẩm. Đồng thời, khi xác định giá trị sản phẩm dở dang theo phương pháp này cũng cần xác định các khoản mục chi phí nguyên vật liệu chính và nguyên vật liệu phụ có cùng tính chất là tham gia ngay từ đầu quy trình sản xuất hay theo mức độ hoạt động để lựa chọn tiêu thức phân bổ theo trung bình (tức không quy đổi sản phẩm dở dang về hoàn thành) hoặc theo nhập trước – xuất trước (tức có quy đổi sản phẩm dở dang về hoàn thành)

+ Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo sản lượng ước tính tương đương

Theo phương pháp này, người ta sẽ dựa theo mức độ hoàn thành và số lượng sản phẩm dở dang để quy đổi số lượng sản phẩm dở dang thành số lượng sản phẩm hoàn thành tương đương. Cách xác định theo phương pháp này như sau:

 

+ Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí định mức (hoặc kế hoạch)

Theo phương pháp này, người ta sẽ căn cứ vào các định mức tiêu hao (hoặc chi phí kế hoạch) cho các công đoạn, bước công việc trong quá trình chế tạo sản phẩm để xác định giá trị sản phẩm dở dang.

Ngoài các phương pháp trên, để xác định giá trị sản phẩm dở dang người ta còn áp dụng một số phương pháp khác như: phương pháp thống kê kinh nghiệm…

Bước 4: Tính tổng giá thành sản phẩm và giá thành đơn vị sản phẩm

Khi tính giá thành sản phẩm, dịch vụ thì kế toán phải lập bảng tính giá thành theo từng đối tượng tính giá

Dưới đây là một minh họa về bảng (phiếu) tính giá thành (Xem bảng 3.1)

Ví dụ:

Tại một phân xưởng tiến hành sản xuất một loại sản phẩm A. Cuối kỳ, hoàn thành nhập kho 800 sản phẩm và 200 sản phẩm dở dang. Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được tập hợp như sau:
(Đvt: 1.000 đ)
– Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: 650.500, trong đó vật liệu chính 590.000
– Chi phí nhân công trực tiếp: 75.000
– Chi phí sản xuất chung: 35.000
Biết rằng, doanh nghiệp này áp dụng phương pháp xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí vật liệu chính.

3.4. TÍNH GIÁ HÀNG XUẤT KHO

Các vật tư, hàng hóa và thành phẩm của doanh nghiệp được nhập từ nhiều nguồn với các mức giá khác nhau. Sự biến động của giá nhập kho vật tư, hàng hóa làm cho việc xác định giá vật tư, hàng hóa và thành phẩm xuất kho trở nên phức tạp. Do vậy, để xác định giá vật tư, hàng hóa và thành phẩm xuất kho kế toán của mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp tính giá xuất kho phù hợp với đặc điểm vật tư, hàng hóa và thành phẩm của doanh nghiệp đó. Các phương pháp xác định giá vật tư, hàng hóa và thành phẩm xuất kho gồm: phương pháp nhập trước xuất trước, phương pháp nhập sau xuất trước, phương pháp giá đơn vị bình quân, phương pháp giá thực tế đích danh và phương pháp giá hạch toán

3.4.1. Phương pháp nhập trước – xuất trước

Phương pháp này dựa trên giả thiết những lô vật tư, hàng hóa nào được nhập kho trước sẽ được xuất dùng trước, khi xuất hết số nhập trước sẽ xuất đến số nhập sau. Giá của vật tư, hàng hóa xuất dùng thuộc lần nhập nào thì tính theo giá nhập thực tế của lần nhập đó. Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp sử dụng ít chủng loại vật tư, hàng hóa và số lần xuất, nhập kho tương đối.

3.4.2. Phương pháp giá đơn vị bình quân

Theo phương pháp này, giá thực tế vật tư, hàng hóa xuất kho trong kỳ (xuất dùng, xuất bán và xuất góp vốn liên doanh liên kết…) được xác định theo công thức sau:

Trong đó, chỉ tiêu giá đơn vị bình quân có thể được xác định theo các dạng cơ bản sau

3.4.2.1. Giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ

Giá đơn vị bình quân được xác định theo phương pháp này tuy đơn giản nhưng mức chính xác không cao. Công việc tính giá lại chỉ thực hiện vào cuối kỳ nên ảnh hưởng đến tính kịp thời của thông tin kế toán. Tính giá theo cách này chỉ thích hợp với những doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ.

3.4.2.2. Giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập

Theo phương pháp này, đơn giá xuất kho được tính lại sau mỗi lần nhập kho. Cụ thể, sau mỗi lần nhập thì đơn giá xuất kho được tính lại cho từng danh điểm vật tư, hàng hóa như sau:

Phương pháp này khắc phục được nhược điểm của phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ, doanh nghiệp có thể tính ngay được giá trị vật tư, hàng hóa khi xuất kho đáp ứng được yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán nhưng lại đòi hỏi nhiều thời gian và công sức tính toán nếu làm kế toán thủ công. Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên với sự hỗ trợ của máy tính

3.4.3. Phương pháp giá thực tế đích danh

Phương pháp này được dùng trong các doanh nghiệp sử dụng vật tư, hàng hóa có giá trị lớn, ít chủng loại và có điều kiện quản lý, bảo quản riêng theo từng lô trong kho. Giá thực tế vật tư, hàng hóa xuất kho được tính theo giá thực tế của từng lô vật tư, hàng hóa nhập kho. Cụ thể, khi xuất lô vật tư, hàng hóa nào thì sẽ xác định giá trị theo giá thực tế của lô vật tư, hàng hóa đó khi nhập kho. Ưu điểm của phương pháp này là xác định được ngay giá trị vật tư, hàng hóa khi xuất kho nhưng đòi hỏi doanh nghiệp phải theo dõi và quản lý chặt chẽ từng lô hàng trong kho.

3.4.4. Phương pháp giá hạch toán

Giá hạch toán là một loại giá kế hoạch hay một loại giá ổn định nào đó trong kỳ. Khi áp dụng phương pháp này, toàn bộ hàng biến động trong kỳ được phản ánh theo giá hạch toán. Cuối kỳ, kế toán sẽ tiến hành điều chỉnh từ giá hạch toán về giá thực tế theocông thức sau: