Bài giảng1.5 Chương 5 – Phương pháp tổng hợp – cân đối

Tổng hợp – cân đối kế toán là một trong bốn phương pháp trong quy trình kế toán ở đơn vị nhằm cung cấp thông tin cho người sử dụng thông qua các báo cáo kế toán.

Chương này giúp người học hình dung các loại báo cáo kế toán; những yêu cầu và nguyên tắc chung khi thiết kế báo cáo kế toán; cũng như nội dung, kết cấu và phương pháp cơ bản lập các Báo cáo tài chính trong doanh nghiệp.

5.1. SỰ CẦN THIẾT VÀ HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP- CÂN ĐỐI

5.1.1. Sự cần thiết

Kế toán là một công cụ quản lý quan trọng trong các tổ chức. Với phương pháp chứng từ cho chúng ta biết được tình hình về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh; phương pháp đối ứng tài khoản cho chúng ta biết tình hình hiện có và biến động của từng đối tượng kế toán; phương pháp tính giá cung cấp thông tin về giá trị của các tài sản, tình hình phát sinh chi phí, doanh thu trong kỳ,…. Tuy nhiên những thông tin này chỉ mới phản ánh các đối tượng kế toán một cách riêng lẻ theo từng nghiệp vụ, theo từng loại đối tượng. Các thông tin này chưa có tính hệ thống và chưa tổng hợp để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người quản lý. Trong thực tế thì nhu cầu thông tin kế toán cho quản lý còn đòi hỏi phải được tổng hợp để phản ánh một cách tổng quát về tình hình Tài sản, Nguồn vốn, về tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ hoặc tổng hợp phản ảnh theo những mặt nào đó trong hoạt động của đơn vị. Từ những lý do đó, phương pháp tổng hợp – cân đối ra đời để giải quyết những vấn đề trên.

Vậy phương pháp tổng hợp – cân đối là phương pháp khái quát tình hình tài sản, nguồn vốn, tình hình kết quả kinh doanh và các mối quan hệ kinh tế khác của các đối tượng kế toán trên những mặt bản chất và trong mối quan hệ cân đối vốn có của đối tượng kế toán.

Phương pháp tổng hợp – cân đối là sự nối tiếp theo sau các phương pháp chứng từ, phương pháp tính giá, phương pháp đối ứng tài khoản. Phương pháp này cung cấp bức tranh tổng quát nhất về tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh. Từ đó những người sử dụng thông tin có thể tìm ra được những thông tin hữu ích: chẳng hạn đưa ra các quyết định kinh doanh, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước…

5.1.2. Hình thức biểu hiện của phương pháp tổng hợp và cân đối

Hình thức biểu hiện cụ thể của phương pháp tổng hợp – cân đối là hệ thống các bảng tổng hợp – cân đối kế toán, hay gọi là Báo cáo kế toán. Trong thực tế, hệ thống báo cáo kế toán của một doanh nghiệp gồm nhiều bảng biểu khác nhau. Phân theo đối tượng sử dụng báo cáo kế toán, hệ thống báo cáo kế toán được chia thành hai loại chủ yếu:

– Báo cáo tài chính: Là những bảng tổng hợp và cân đối phản ánh tình hình tài chính của đơn vị. Chúng bao gồm: Bảng cân đối kế toán (báo cáo tổng hợp – cân đối giữa tài sản, nguồn vốn), Bảng báo cáo kết quả kinh doanh (báo cáo tổng hợp – cân đối giữa doanh thu, thu nhập; chi phí và kết quả kinh doanh), Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ (báo cáo tổng hợp – cân đối giữa các dòng tiền vào và dòng tiền ra), và thuyết minh Báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính phản ánh thông tin tổng quát nhất về các đối tượng kế toán và được quy định thống nhất về biểu mẫu, nội dung các chỉ tiêu phản ánh trong bảng; thời gian lập và nộp và là “sản phẩm” của phân hệ kế toán tài chính. Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một Doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ Doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Báo cáo tài chính hay còn là bảng tổng hợp cân đối tổng thể.

– Báo cáo kế toán quản trị: Là những bảng tổng hợp và cân đối phản ánh tất cả các hoạt động của đơn vị. Chẳng hạn: báo cáo chi tiết về tình hình tài sản cố định, tình hình hàng tồn kho, công nợ, doanh thu – chi phí – lợi nhuận theo yêu cầu riêng của các nhà quản trị trong tổ chức. Báo cáo kế toán quản trị phản ánh chi tiết hơn đối tượng của kế toán. Báo cáo kế toán quản trị không được quy định thống nhất về nội dung, kết cấu, thời gian lập và nộp. Các đơn vị căn cứ vào yêu cầu quản lý cụ thể để xây dựng mẫu biểu, các chỉ tiêu phản ánh thích hợp và thời gian nộp cho phù hợp với đơn vị của mình…

Thông tin từ báo cáo này phục vụ trong công tác quản lý trong nội bộ của đơn vị.

5.2. Nội dung và yêu cầu đối với báo cáo kế toán

5.2.1. Nội dung báo cáo kế toán

Trong thực tiễn, báo cáo kế toán là phương tiện để cung cấp các thông tin kế toán cho các nhà quản lý trong nội bộ doanh nghiệp cũng như các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp. Để thông tin cung cấp cho người sử dụng có tính hữu ích, ngoài việc tuân thủ theo các yêu cầu và nguyên tắc chung cần chú ý đến một số yếu tố cơ bản sau khi thiết kế một báo cáo kế toán.

– Tên báo cáo: là sự khái quát hoá nội dung của báo cáo kế toán. Ví dụ: “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ” phản ánh sự dịch chuyển các dòng tiền trong đơn vị, hay “Bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn vật tư” phản ánh tình hình tăng, giảm vật tư,… Đây là yếu tố để phân loại báo cáo theo nội dung kinh tế.

– Tên và địa chỉ của bộ phận, Doanh nghiệp lập báo cáo: Yếu tố này nhằm làm rõ thông tin trên báo cáo thuộc đơn vị, bộ phận nào để người quản lý phân biệt và đánh giá đúng đắn tình hình sử dụng các nguồn lực hay kết quả của từng đơn vị, bộ phận.

– Ngày lập báo cáo hoặc kỳ lập báo cáo. Yếu tố này nhằm làm rõ thông tin được báo cáo tại thời điểm nào, trong kỳ kế toán nào. Do nhu cầu thông tin của các nhà quản lý đa dạng nên thời điểm báo cáo có thể là cuối ngày, tuần, tháng, quý, năm…

– Đơn vị tính: là đơn vị tiền tệ hoặc các đơn vị đo lường khác. Đơn vị tính có thể sử dụng chung cho mọi số liệu trên báo cáo, như: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh,…; hoặc có thể sử dụng theo từng chỉ tiêu trong hàng, trong cột như: Bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn vật tư.

– Nội dung của báo cáo: Đây là yếu tố cơ bản nhất trong một báo cáo kế toán, là phần chi tiết của nội dung đã khái quát ở tên báo cáo. Mức độ chi tiết hay tổng hợp của nội dung được báo cáo tuỳ thuộc vào yêu cầu của nhà quản lý. Nội dung của báo cáo gồm hai dạng thông tin: thông tin dạng chữ và thông tin dạng số. Thông tin dạng chữ phản ánh nội dung kinh tế cụ thể của đối tượng kế toán, còn thông tin dạng số thể hiện mặt lượng của đối tượng kế toán tại thời điểm báo cáo hay trong kỳ báo cáo.

Thông thường, đối với các báo cáo của kế toán tài chính, thông tin dạng chữ của báo cáo đã được chuẩn hóa theo những hướng dẫn chung của chuẩn mực kế toán để đảm bảo tính so sánh của thông tin kế toán được trình bày trên các báo cáo này. Đối với các báo cáo kế toán quản trị, thông tin dạng chữ rất đa dạng vì nhu cầu quản trị doanh nghiệp luôn thay đổi. Những báo cáo kế toán quản trị được sử dụng thường xuyên ở đơn vị thì cũng nên thiết kế thông tin dạng chữ có tính so sánh để thuận lợi cho người sử dụng.

– Chữ ký của người lập báo cáo và chữ ký của người duyệt báo cáo. Yếu tố này nhằm làm rõ trách nhiệm của người lập cũng như tính hợp pháp của báo cáo.

5.2.2. Các yêu cầu đối với báo cáo kế toán

Để đáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ cho các đối tượng, khi lập báo cáo kế toán cần phải bảo đảm những yêu cầu sau:

– Báo cáo kế toán phải trình bày một cách trung thực và hợp lý các đối tượng kế toán. Đây là yêu cầu quan trọng nhất, được qui định trong chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính nhằm đảm bảo số liệu kế toán sẽ minh bạch, tin cậy và có tính hữu ích đối với người sử dụng. Để thực hiện yêu cầu này, kế toán phải tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và qui định có liên quan hiện hành.

– Nội dung, phương pháp tính toán các chỉ tiêu trong báo cáo kế toán phải nhất quán. Yêu cầu này cần được coi trọng trong báo cáo kế toán quản trị, qua đó phục vụ cho công tác kiểm tra, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu của đơn vị.

– Số liệu trình bày trong các báo cáo phải trung thực và hợp lý, phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng.

– Các báo cáo tài chính phải lập theo đúng mẫu biểu ban hành, lập và gửi kịp thời, đúng thời hạn quy định. Yêu cầu này phục vụ kịp thời cho công tác quản lý và cho việc nghiên cứu ban hành các chính sách, chế độ về quản lý kinh tế tài chính phù hợp với thực tế phát triển kinh tế, xã hội.

5.3. Hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp

5.3.1. Bảng cân đối kế toán

5.3.1.1. Khái niệm

Là bảng tổng hợp, cân đối tổng thể, phản ảnh tổng quát tình hình tài sản và nguồn vốn của đơn vị tại một thời điểm nhất định. Thời điểm ở đây tùy theo doanh nghiệp chọn, có thể là cuối tháng, cuối quý, cuối năm.

5.3.1.2. Ý nghĩa

Bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng để nghiên cứu đánh giá tổng quát tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và triển vọng kinh tế tài chính của đơn vị . Với ý nghĩa đó, báo cáo này không chỉ có giá trị đối với các nhà quản lý, mà còn đối với cả các đối tượng bên ngoài có quan tâm đến lợi ích của doanh
nghiệp.

5.3.1.3. Nội dung và kết cấu

Bảng cân đối kế toán có thể kết cấu theo một bên hoặc hai bên. Dù thiết kế như thế nào thì vẫn phải bao gồm hai phần: Tài sản và nguồn vốn Mẫu bảng cân đối kế toán đơn giản

Phần tài sản: Phản ánh toàn bộ tài sản hiện có của đơn vị tại thời điểm đầu năm và cuối năm. Qua đó có thể đánh giá tổng quát năng lực sản xuất kinh doanh và trình độ sử dụng vốn của đơn vị. Các tài sản được sắp xếp theo tính thanh khoản giảm dần. Cụ thể:

– Tài sản ngắn hạn: Là những tài sản được dự tính để bán hay sử dụng trong một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp; hoặc được nắm giữ cho mục đích thương mại hay cho mục đích ngắn hạn và dự kiến thu hồi hoặc thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc năm. Tài sản ngắn hạn được sắp xếp theo trình tự sau: Tiền > Đầu tư tài chính ngắn hạn >Các khoản phải thu > Hàng tồn kho >Tài sản ngắn hạn khác.

– Tài sản dài hạn: Các tài sản khác ngoài tài sản ngắn hạn thì được trình bày ở “Tài sản dài hạn” Tài sản dài hạn được sắp xếp theo trình tự sau: Các khoản phải thu dài hạn: Tài sản cố định > Bất động sản đầu tư > Các khoản đầu tư tài chính dài hạn > Tài sản dài hạn khác.

Phần nguồn vốn: Phản ánh toàn bộ nguồn vốn của đơn vị tại thời điểm đầu năm và cuối năm. Số liệu bên nguồn vốn thể hiện các nguồn tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong đơn vị. Tỷ lệ và kết cấu của từng nguồn vốn phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp. Mặt khác chúng còn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với các bên liên quan: Nhà nước, ngân hàng, nhà cung cấp, người lao động,…

Phần nguồn vốn được sắp xếp theo trách nhiệm thanh toán giảm dần. Cụ thể:
– Nợ phải trả: Nợ ngắn hạn > Nợ dài hạn
– Vốn chủ sở hữu.

Tất cả các chỉ tiêu trên được thể hiện ở 4 cột
+ Mã số: Ghi số hiệu của chỉ tiêu, mỗi chỉ tiêu sẽ có một số hiệu để thuận tiện cho việc tổng hợp các số liệu trong ngành.
+ Thuyết minh: Được giải thích trong thuyết minh báo cáo tài chính.
+ Số cuối năm: Là số liệu của các chỉ tiêu được tính vào thời điểm cuối kỳ.
+ Số đầu năm: Là số liệu của các chỉ tiêu được tính vào thời điểm đầu kỳ (bằng với cuối kỳ trước). Số liệu này được giữ cố định cho đến cuối kỳ.

Ngoài ra bảng cân đối kế toán còn bao gồm các chỉ tiêu ngoài bảng, những chỉ tiêu này mang tính chất bổ sung.

5.3.1.4 Tính chất của bảng cân đối kế toán

Tính chất quan trọng nhất của bảng cân đối kế toán chính là tính cân đối giữa tổng tài sản và tổng nguồn vốn.

Tổng Tài sản = Tổng Nguồn vốn (*) trong mọi trường hợp

Chứng minh công thức *:

Ban đầu khi thành lập doanh nghiệp, toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được phản ánh trên bảng cân đối kế toán theo hai mặt đó là tài sản và nguồn hình thành tài sản, mà hai mặt này luôn bằng nhau.

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các nghiệp vụ phát sinh sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán. Tuy nhiên, việc ghi chép các nghiệp vụ này phải theo phương pháp đối ứng tài khoản, mà với phương pháp này thì luôn luôn giữ được cân đối giữa tài sản và nguồn vốn. Do đó: Tài sản =Nguồn vốn. Tính chất cân đối quan trọng này của bảng cân đối kế toán cho phép kiểm tra tính đúng đắn, chính xác, trong việc lập bảng cân đối kế toán.

5.3.1.5 Mối quan hệ giữa bảng cân đối kế toán với tài khoản kế toán

Bảng cân đối kế toán và tài khoản kế toán đều phản ảnh tài sản và nguồn vốn. Nhưng bảng cân đối kế toán phản ảnh một cách toàn diện, tổng hợp về tài sản và nguồn vốn tại một thời điểm nhất định. Còn tài khoản kế toán thì phản ánh một cách thường xuyên liên tục sự biến động của tài sản, nguồn vốn nhưng chỉ phản ánh theo từng đối tượng kế toán.Tài khoản kế toán và bảng cân đối kế toán bổ sung cho nhau để bảo đảm thông tin kế toán được phản ánh một cách toàn diện và thường xuyên liên tục về tình hình tài sản và nguồn vốn. Mối quan hệ này được thể hiện như sau:

Đầu kỳ: Căn cứ vào số đầu kỳ của bảng cân đối kế toán (hoặc số cuối kỳ trước) để ghi vào số dư đầu kỳ của tài khoản.

Cuối kỳ: Từ các tài khoản chúng ta tính được số dư cuối kỳ, lấy số dư này để ghi vào các chỉ tiêu cuối kỳ trong bảng cân đối kế toán. Cụ thể cách ghi như sau

+ Các tài khoản loại 1 và 2 (Số dư bên Nợ): Ghi vào bên Tài sản.
+ Các tài khoản loại 3 và 4 (Số dư bên Có): Ghi vào bên nguồn vốn.

Tuy nhiên, phải chú ý một số trường hợp đặc biệt có cách ghi khác như sau:

– Đối với các tài khoản lưỡng tính (TK 131, 331, 334, 338…) phải căn cứ vào tài khoản chi tiết để ghi, không được lấy số tổng hợp. Nếu tài khoản đó mang nội dung tài sản thì ghi vào phần tài sản, nếu mang nội dung nguồn vốn thì ghi vào phần nguồn vốn.

– Đối với các tài khoản hao mòn (TK 214), dự phòng (229): Ghi âm bên tài sản.Ghi âm được quy ước bằng cách ghi trong ngoặc đơn ().

– Đối với các tài khoản điều chỉnh nguồn vốn (TK 412, 413, 419, 421,…) nếu có số dư bên có thì ghi bình thường bên nguồn vốn, nếu có số dư bên nợ thì ghi âm bên nguồn vốn.

Việc ghi như trên nhằm bảo đảm cho bảng cân đối kế toán phản ảnh đúng bản chất của tài sản và nguồn vốn.

5.3.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

5.3.2.1. Khái niệm

Báo cáo kết quả kinh doanh là bảng tổng hợp, cân đối tổng thể phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh trong một kỳ của doanh nghiệp và nghĩa vụ về thuế đối với Nhà nước.

5.3.2.2. Ý nghĩa

Báo cáo kết quả kinh doanh là nguồn cung cấp thông tin tài chính cần thiết đối với các nhà quản lý, cơ quan Nhà nước và các bên có liên quan. Nó là căn cứ quan trọng để đánh giá và phân tích tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

5.3.2.3 Nội dung

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được chia thành 2 hoạt động:

– Hoạt động kinh doanh: Bao gồm hoạt động cung cấp hàng hóa dịch vụ và hoạt động đầu tư tài chính. Lợi nhuận từ họat động kinh doanh là bộ phận lợi nhuận cơ bản của mỗi tổ chức kinh tế. Phần chi phí trên báo cáo hiện nay tại Việt Nam được trình bày theo chức năng kinh tế của chi phí.

– Hoạt động khác: Ngoài các hoạt động chính của đơn vị, những hoạt động phát sinh không thường xuyên tại đơn vị gọi là hoạt động khác. Lợi nhuận từ hoạt động này gọi là lợi nhuận hoạt động khác.

5.3.2.4. Tính chất của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Tính chất quan trọng nhất của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh chính là tính cân đối giữa Doanh thu/ thu nhập; chi phí và kết quả kinh doanh, thể hiện qua phương trình sau:

Kết quả kinh doanh = Doanh thu (Thu nhập) – Chi phí

Từ phương trình *, triển khai thành các phương trình nhỏ sau:

5.3.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

5.3.3.1. Khái niệm

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tổng hợp và cân đối, phản ánh việc hình thành và sử dụng dòng tiền phát sinh theo các hoạt động khác nhau trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.

Khái niệm tiền trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ là các khoản vốn bằng tiền (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển và các khoản tương đương tiền của đơn vị. Tương đương tiền được định nghĩa là các khoản đầu tư ngắn hạn (không quá 3 tháng), có khả năng chuyển đổi thành một lượng tiền xác định và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền.

5.3.3.2. Ý nghĩa

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khă năng so sánh giữa các doanh nghiệp vì nó loại trừ được các ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dịch và hiện tượng.

5.3.3.3 Nội dung và phương pháp lập

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ trình bày dòng tiền của ba hoạt động: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. Cụ thể:

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh: Là dòng tiền phát sinh từ các họat động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp. Có thể kể đến một số dòng tiền cơ bản của họat động kinh doanh, như:

– Tiền thu từ bán hàng hóa, dịch vụ

Mẫu Báo cáo lưu chuyển tiền tệ đơn giản

Khác với Bảng cân đối kế toán hay Báo cáo kết quả kinh doanh được lập trên cơ sở dồn tích, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập trên cơ sở tiền. Do vậy, kế toán chỉ quan tâm đến dòng tiền thực thu (dòng tiền vào) và dòng tiền thực chi (dòng tiền ra) trong kỳ kế toán để trình bày báo cáo này. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có thể được lập theo phương pháp gián tiếp hoặc phương pháp trực tiếp.

Phương pháp trực tiếp được thực hiện trên cơ sở phân loại tiền thu và chi trên các tài khoản vốn bằng tiền và tương đương tiền theo ba hoạt động: kinh doanh, đầu tư và tài chính. Ngược lại, phương pháp gián tiếp sử dụng chỉ tiêu “Lợi nhuận trước thuế” từ Báo cáo kết quả kinh doanh để điều chỉnh các khoản thu nhập và chi phí không là tiền của hoạt động kinh doanh, cũng như các biến động có liên quan đến nhu cầu vốn lưu động ròng để xác định lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh. Phần lưu chuyển tiền của họat động đầu tư và tài chính cũng được lập như phương pháp trực tiếp. Những vấn đề này sẽ được nghiên cứu kỹ hơn trong môn học kế toán tài chính.

5.3.3.4 Tính chất của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Tính chất quan trọng nhất của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ đó chính là tính cân đối giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra của Doanh nghiệp.
Dòng tiền vào = Dòng tiền ra
Tiền tồn đầu kỳ + Tiền thu trong kỳ = Tiền chi trong kỳ + Tiền tồn cuối kỳ
Nếu gắn các dòng tiền này cho 3 hoạt động: kinh doanh, đầu tư, tài chính, thì ta có sơ đồ sau đây:

Như vậy, tính cân đối của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ không chỉ đơn thuần thể hiện qua phương trình cân đối trên mà còn là cân đối giữa dòng tiền của hoạt động này với dòng tiền của hoạt động khác. Nhờ tính cân đối này mà báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho biết: tiền tạo ra từ hoạt động nào và sử dụng cho mục đích gì. Tính cân đối của báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho phép người sử dụng báo cáo biết được một phần tình hình tài chính doanh nghiệp, dự đoán dòng tiền trong tương lai để có quyết định kinh doanh đúng đắn.