Trao đổi về kế toán giá trị hợp lý trong phản ánh và ghi nhận các khoản đầu tư tài chính ở các doanh nghiệp

Hiện nay, việc ghi nhận các khoản đầu tư tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu dựa trên nguyên tắc giá gốc. Trong xu thế hội nhập và tiếp cận với chuẩn mực kế toán quốc tế, kế toán theo nguyên tắc giá gốc sẽ dần bị thay thế bởi kế toán theo phương pháp giá trị hợp lý. Do vậy, việc phản ánh và trình bày các khoản đầu tư tài chính theo giá trị hợp lý sẽ phản ánh đầy đủ và trung thực hơn giá trị các khoản đầu tư tài chính trong các doanh nghiệp khi các khoản đầu tư này thường xuyên có sự biến động. Bài viết đưa ra những tồn tại trong việc hạch toán các khoản đầu tư tài chính theo nguyên tắc giá phí và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc phản ánh, trình bày bộ phận tài sản tài chính “nhạy cảm” này, với mục đích nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của việc công bố thông tin kế toán, tài chính trong thời gian tới ở Việt Nam.

Những bất cập trong việc ghi nhận các khoản đầu tư tài chính theo giá gốc

Nguyên tắc giá gốc được xem là nền tảng đo lường của kế toán trong nhiều năm qua và kế toán theo phương pháp giá gốc đã thực hiện tốt chức năng cung cấp thông tin phù hợp và đáng tin cậy cho người sử dụng. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, kế toán theo giá gốc đã bộc lộ những hạn chế đối với việc phản ánh thông tin về tài sản tài chính nói chung và các khoản đầu tư tài chính nói riêng. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, hạn chế trong việc ghi nhận ban đầu của các khoản đầu tư tài chính (ĐTTC).

Theo quy định của chế độ kế toán Việt Nam, các khoản ĐTTC phát sinh lần đầu tiên tại doanh nghiệp đều được ghi nhận theo giá gốc. Khi doanh nghiệp tiến hành mua cổ phiếu hoặc trái phiếu với mục đích đầu tư ngắn hạn hay dài hạn thì giá trị của khoản chứng khoán đầu tư sẽ được ghi sổ kế toán theo giá thực tế mua chứng khoán (giá gốc), bao gồm: giá mua cộng (+) các chi phí mua (nếu có) như chi phí môi giới, giao dịch, cung cấp thông tin, thuế, lệ phí và phí ngân hàng.

Ví dụ, Công ty XYZ mua 10.000 cổ phiếu ABC, mệnh giá 10.000đ/cp, giá mua 30.000đ/cp, với thời gian nắm giữ dự kiến là 6 tháng. Chi phí môi giới 15.000.000đ. Phí giao dịch 1% giá trị giao dịch. Như vậy, theo nguyên tắc giá gốc, giá trị của 10.000 cp ABC = Giá mua + Chi phí môi giới + Chi phí giao dịch = 318 triệu đồng, trong giá mua là 300 trđ, phí môi giới là 15trđ và phí giao dịch là 3 trđ. Như vậy, giá gốc 1 cổ phiếu ABC lúc này là 31.800đ/cp, tăng 1.800đ so với giá mua ban đầu. Với việc hạch toán cả chi phí môi giới, chi phí giao dịch, và các chi phí khác như chi phí cung cấp thông tin, thuế, lệ phí,… vào giá gốc của các khoản ĐTTC nắm giữ trong thời gian ngắn, làm cho giá trị của các khoản đầu tư này được phản ánh không chính xác, “đẩy” giá gốc của các khoản đầu tư chứng khoán lên rất cao so với giá trị thực tế của nó đang được giao dịch trên thị trường.

Thứ hai, bất cập trong việc phản ánh và trình bày các khoản ĐTTC trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Khi kết thúc kỳ kế toán, giá trị của các khoản ĐTTC của doanh nghiệp được trình bày trên báo cáo tài chính (BCTC) mà cụ thể là Bảng cân đối kế toán theo giá gốc – giá trị ban đầu. Nếu các khoản chứng khoán đầu tư của doanh nghiệp bị giảm giá hoặc giá trị các khoản ĐTTC bị tổn thất do tổ chức kinh tế mà doanh nghiệp đang đầu tư vào bị lỗ, thì doanh nghiệp sẽ phải trích lập dự phòng theo quy định. Còn ngược lại, nếu giá trị các khoản ĐTTC của doanh nghiệp tăng lên do giá cổ phiếu tăng, thì khoản chênh lệch này lại không được phản ánh và ghi nhận

Ví dụ, ngày 16/03/200N, Công ty Alpha mua 500.000 cp ACB được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) với mục đích đầu tư ngắn hạn. Giá mua là 26.000đ/cổ phiếu, và chi phí phải trả để sở hữu 500.000 cổ phiếu ACB là 26.000đ/cp x 500.000cp =13 tỷ đồng. Kết thúc năm tài chính, ngày 31/12/200N, giá đóng cửa của cổ phiếu ACB trên HNX là 37.000đ/cp. Như vậy, giá trị của khoản đầu tư này tính theo giá thị trường tại thời điểm lập BCTC là 37.000đ/cp x 500.000cp = 18,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, giá trị của khoản đầu tư vào cổ phiếu ACB được trình bày trên Bảng cân đối kế toán vẫn chỉ là 13 tỷ đồng và phần chênh lệch 5,5 tỷ đồng này không được ghi nhận tăng thêm vào thu nhập, tài sản hay vốn chủ sở hữu. Với cách ghi nhận này, vô hình chung, sự tăng của giá cổ phiếu trong danh mục các khoản ĐTTC không tác động đáng kể nào đến bảng tổng kết tài sản và báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong khi đó, rõ ràng, doanh nghiệp sẽ được “hưởng lợi” từ việc cổ phiếu ACB tăng hơn 40% giá trị.

Ngoài việc không phản ánh chênh lệch tăng của các khoản ĐTTC, khi các khoản ĐTTC bị giảm giá thì việc trích lập dự phòng các khoản đầu tư này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Đó là việc ghi nhận tất cả các khoản dự phòng ĐTTC vào chi phí tài chính phát sinh trong kỳ, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ kế toán, mà không phân biệt khoản dự phòng giảm giá đầu tư là dự phòng giảm giá đầu tư tài chính ngắn hạn (phản ánh trên TK 129) hay khoản dự phòng giảm giá đầu tư tài chính dài hạn (phản ánh trên TK 229). Trong khi đó, bản chất của khoản ĐTTC ngắn hạn và dài hạn là rất khác nhau. Việc phản ánh các khoản dự phòng ĐTTC vào chi phí tài chính làm cho nhiều doanh nghiệp bị “lỗ nặng” trong khi hoạt động kinh doanh chính vẫn tăng trưởng và có hiệu quả.

Liên quan đến việc trích lập dự phòng giảm giá đối với các chứng khoán chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán, chúng tôi nhận thấy quy định trong điều 5, phần II, của Thông tư 228/2009/TT-BTC, ngày 07 tháng 12 năm 2009, của Bộ Tài chính về Hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp tại doanh nghiệp, chưa đảm bảo tính thuyết phục, có thể dẫn đến phản ánh không chính xác giá trị hợp lý của các khoản ĐTTC tại thời điểm cuối kỳ kế toán. Trong quy định tại Thông tư 228 này, đối với các Công ty đã đăng ký giao dịch trên thị trường giao dịch của các công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCom) thì giá chứng khoán thực tế trên thị trường được xác định là giá giao dịch bình quân trên hệ thống tại ngày trích lập các khoản dự phòng. Còn đối với các công ty chưa đăng ký giao dịch ở thị trường giao dịch của các công ty đại chúng (OTC), giá chứng khoán thực tế trên thị trường được xác định là giá trung bình trên cơ sở giá giao dịch được cung cấp tối thiểu bởi ba (03) công ty chứng khoán tại thời điểm lập trích lập dự phòng. Tuy nhiên, thông thường các loại chứng khoán của các công ty đại chúng trên có tính thanh khoản thấp, ít giao dịch, nên những người nắm giữ loại chứng khoán này có thể “phù phép” làm tăng giá chứng khoán tại ngày cuối cùng của kỳ kế toán, để tránh việc phải trích lập các khoản dự phòng. Vì tính thanh khoản kém, ít người mua, kẻ bán, người nắm giữ dễ dàng đẩy giá chứng khoán lên thông qua việc tiến hành mua bán một cách “giả tạo” chứng khoán này với nhau.

Các khoản ĐTTC cần được phản ánh và ghi nhận theo giá trị hợp lý

Giá trị hợp lý là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi từ cuối những năm 1990 khi Ủy ban soạn thảo chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) nghiên cứu ban hành và sửa đổi các chuẩn mực kế toán quốc tế liên quan đến các lĩnh vực như công cụ tài chính, bất động sản đầu tư, thanh toán trên cơ sở cổ phiếu, nông nghiệp,… Một trong những định nghĩa về giá trị hợp lý được IASB sử dụng phổ biến, giá trị hợp lý là mức giá mà một tài sản có thể được trao đổi giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong một giao dịch ngang giá (theo Chuẩn mực quốc tế số 39 “Công cụ tài chính: Ghi nhận và đo lường”, 01/07/2009). Định nghĩa trên về giá trị hợp lý trong IAS 39 tương tự như định nghĩa giá trị hợp lý được đưa ra trong Báo cáo số 157 “Đo lường giá trị hợp lý” (Statement No.157 “Fair Value Measurement”) của Hội đồng Kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB) ban hành năm 2006. Với việc sử dụng giá trị hợp lý là cơ sở đo lường thích hợp khi ghi nhận ban đầu của tài sản và nợ phải trả, thông tin do kế toán cung cấp sẽ đảm bảo hai đặc tính chất lượng quan trọng: tính thích hợp và tính đáng tin cậy. Tính thích hợp được xác định là chất lượng của thông tin hay mức độ ảnh hưởng của thông tin đến quyết định kinh tế của người sử dụng. Tính thích hợp được đánh giá trên phương diện, thông tin thích hợp để hỗ trợ đối tượng sử dụng đánh giá hoạt động của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và dự đoán tương lai. Còn tính đáng tin cậy thể hiện, thông tin kế toán phải trình bày trung thực các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo đúng bản chất một cách khách quan, thận trọng và đầy đủ. Thông tin có thể thích hợp, nhưng có thể không đáng tin cậy do sự ghi nhận giá trị có thể dẫn đến việc hiểu thông tin sai lệch. Như vậy có thể thấy sự thống nhất quan điểm giữa IASB và FASB về kế toán giá trị hợp lý và sử dụng nó như một cơ sở đo lường chủ yếu nhằm tăng cường tính đáng tin cậy và thích hợp của thông tin trình bày trên BCTC.

Ở Việt Nam, thuật ngữ “giá trị hợp lý” còn tương đối mới mẻ và mới được đề cập chủ yếu trong Thông tư 210/2009/TT-BTC về “Hướng dẫn áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày báo cáo tài chính và thuyết minh thông tin đối với công cụ tài chính”, và sẽ được áp dụng để trình bày và thuyết minh các công cụ tài chính trên BCTC từ năm 2011. Do đó, có thể một bộ phận tài sản quan trọng của doanh nghiệp là các khoản ĐTTC bị phản ánh sai giá trị khi sử dụng phương pháp giá gốc để ghi nhận và đo lường. Với mong muốn hội nhập trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán, việc vận dụng giá trị hợp lý trong ghi nhận giá trị các khoản ĐTTC được xem là phù hợp với các doanh nghiệp Việt Nam cũng như các đối tượng sử dụng thông tin của kế toán. Doanh nghiệp có thể trình bày một cách đầy đủ, chính xác, minh bạch giá trị tài sản của mình. Nhà đầu tư có thể nắm bắt được rõ hơn giá trị của các khoản ĐTTC trong toàn bộ tài sản tài chính của đơn vị. Còn nhà quản trị trong doanh nghiệp có các biện pháp để dự phòng các tổn thất giảm giá trị tài sản. Trong khi đó, các cơ quan quản lý, giám sát của Nhà nước có được đầy đủ thông tin hơn về các rủi ro tài chính mà các đơn vị này đang gặp phải khi các khoản ĐTTC biến động.

Vận dụng giá trị hợp lý trong việc ghi nhận và trình bày các khoản ĐTTC

Việc chọn lựa phương pháp ghi chép, hạch toán các khoản ĐTTC phải phù hợp với mục tiêu chung của BCTC. Theo khuôn mẫu lý thuyết của IASB, mục tiêu của BCTC là cung cấp thông tin kinh tế tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của một tổ chức. Các thông tin này là hữu ích đối với phần lớn đối tượng sử dụng trong việc ra các quyết định kinh tế. Với việc phản ánh giá trị của các khoản ĐTTC trong doanh nghiệp theo giá trị hợp lý sẽ giúp kế toán thực hiện tốt hơn chức năng cung cấp các thông tin thích hợp để hỗ trợ người sử dụng đánh giá hiệu quả hoạt động của đơn vị. Để việc ghi nhận, hạch toán nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến các khoản ĐTTC được phản ánh chính xác, hợp lý, góp phần tạo ra thông tin kế toán phù hợp hơn, chúng tôi đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:

* Thứ nhất, thiết lập mô hình xác định giá trị hợp lý của các khoản ĐTTC

Để xác định giá trị hợp lý của các khoản ĐTTC trong doanh nghiệp, cần phải phân loại các khoản đầu tư này dựa trên loại thị trường mà khoản đầu tư này có giao dịch. Trên quan điểm hướng dẫn của IAS 39 “Công cụ tài chính: Ghi nhận và đo lường”, nên phân loại các khoản ĐTTC thành 2 nhóm sau:

+ Nhóm 1: Các khoản ĐTTC trên thị trường năng động

+ Nhóm 2: Các khoản ĐTTC trên thị trường không năng động

Đối với các khoản ĐTTC trên thị trường năng động (active market), giá trị hợp lý của khoản ĐTTC sẽ được xác định dựa trên giá niêm yết trên thị trường có thể quan sát được của các khoản đầu tư đó. Giá niêm yết trên thị trường năng động là bằng chứng tốt nhất của giá trị hợp lý vì khi đó, giá trị của khoản ĐTTC được hai bên mua bán quyết định dựa trên hiểu biết đầy đủ và tự nguyện tham gia. Khi đó, để xác định giá trị hợp lý của khoản đầu tư, giá niêm yết trên thị trường năng động luôn phải được ưu tiên sử dụng để định giá, ngay cả khi doanh nghiệp cho rằng có các phương pháp định giá khác phù hợp hơn. Giá trị hợp lý của một danh mục ĐTTC là tích số của số lượng nắm giữ và giá niêm yết của công cụ đó. Với các khoản ĐTTC trong các doanh nghiệp Việt Nam, thị trường năng động trong trường hợp này chính là sàn giao dịch chứng khoán chính thức gồm Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), nơi thường xuyên diễn ra các giao dịch mua bán theo giá thị trường của các loại cổ phiếu của công ty đại chúng niêm yết và các loại trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp.

Ví dụ, ngày 31/12/200N, giá cổ phiếu của ngân hàng S trên Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh là 16.000 đồng. Cũng tại thời điểm đó, một tổ chức tư vấn tài chính độc lập có thể định giá cổ phiếu ngân hàng S với giá 19.800 đồng/cổ phiếu, dựa trên các yếu tố liên quan đến lợi thế ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh; các dự án lớn sẽ thu lợi ích kinh tế mà ngân hàng có được trong tương lai gần,… Các nhân tố này có thể được xem là chính xác, phù hợp và đáng tin cậy. Tuy nhiên, trong trường hợp này, giá trị hợp lý của khoản ĐTTC liên quan đến cổ phiếu của ngân hàng S được ưu tiên xác định theo giá thị trường là 16.000 đồng. Lý do, với 16.000đồng/cổ phiếu, các bên mua và bên bán có liên quan đều “sẵn sàng” giao dịch cổ phiếu với hiểu biết đầy đủ trong một giao dịch được xem là ngang giá.

Trong trường hợp, với thị trường năng động, nhưng lại không xác định được giá niêm yết của khoản đầu tư tài chính. Nguyên nhân do tính thanh khoản của cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường này là khá thấp hoặc không tồn tại mức giá mua, giá bán, hoặc giá của một số giao dịch gần nhất với thời điểm xác định giá trị hợp lý của các khoản ĐTTC. Khi đó giá trị hợp lý của các khoản ĐTTC được xác định dựa vào các dữ liệu có thể thu thập được căn cứ vào dữ liệu thị trường sẵn có như giá của một số giao dịch gần nhất với thời điểm đo lường giá trị hợp lý hoặc giá của các khoản ĐTTC tương đương trên thị trường. Các dữ liệu tham chiếu này phải có nguồn gốc hay được chứng thực từ các dữ liệu thị trường, có thể thu thập bằng các công cụ tương quan hay các công cụ đo lường khác.

Đối với các khoản ĐTTC trên thị trường không năng động (unactive market), với sự suy giảm đáng kể về số lượng và mức độ các giao dịch của các khoản ĐTTC, dẫn đến sự không tồn tại giá trị hợp lý tại thời điểm xác định. Trong trường hợp này, để đo lường giá trị hợp lý của các khoản ĐTTC, sẽ phải sử dụng phương pháp định giá. Một trong các mô hình định giá đáng tin cậy và thường được sử dụng để xác định giá trị hợp lý của các khoản ĐTTC là mô hình chiết khấu dòng tiền, hoặc mô hình định giá quyền chọn.

Ví dụ, ngày 15/09/200N, Công ty A mua Trái phiếu chính phủ, trị giá 1.500 triệu đồng, mệnh giá 1 triệu đồng/trái phiếu, kỳ hạn 5 năm, lãi suất 8%/năm. Kỳ trả lãi hàng năm, tại ngày 15/09 hàng năm. Tại ngày mua, lãi suất thị trường cho công cụ tương đương có cùng đặc tính là 10%/năm. Công ty A ghi nhận ban đầu khoản đầu tư mua trái phiếu theo giá trị hợp lý. Nhưng vì khoản đầu tư này được giao dịch trên thị trường không năng động, nên Công ty A sẽ sử dụng phương pháp định giá theo chiết khấu dòng tiền để xác định giá trị hợp lý của khoản đầu tư này. Giá trị hợp lý của khoản ĐTTC được tính toán qua bảng số liệu sau (bảng số 1)

Bảng số 1: Xác định giá trị hợp lý của khoản ĐTTC trên thị trường không năng động (đvt: đồng)

Như vậy, trong trường hợp này, giá trị hợp lý của khoản đầu tư trái phiếu Chính phủ của công ty A được ghi nhận trên thị trường không năng động là 1.386.276.397 đồng. Có thể tóm tắt mô hình xác định giá trị hợp lý của các khoản ĐTTC trong doanh nghiệp như sau:

* Thứ hai, hoàn thiện việc ghi nhận ban đầu đối với các khoản ĐTTC

Để tăng cường tính minh bạch của thông tin kế toán, tạo điều kiện tối đa cho việc giám sát tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, khi ghi nhận ban đầu, các khoản ĐTTC của doanh nghiệp nên được phản ánh theo giá trị hợp lý mà không nên phản ánh theo giá gốc. Để hạch toán một cách phù hợp các khoản ĐTTC, nên chia thành 2 loại:

Loại thứ nhất: các khoản ĐTTC ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua lãi lỗ. Đây thông thường là các khoản ĐTTC doanh nghiệp có ý định nắm giữ dưới 12 tháng, thỏa mãn một trong các điều kiện sau:

– Được phân loại vào nhóm chứng khoán nắm giữ để kinh doanh cho mục đích thương mại, ví dụ như: được mua hoặc tạo ra chủ yếu cho mục đích bán và mua lại trong tương lai gần; có bằng chứng về việc kinh doanh các khoản ĐTTC này nhằm mục đích thu lợi ngắn hạn; là một phần của danh mục ĐTTC xác định được có bằng chứng của mô hình thực sự gần đây mang lại lợi nhuận ngắn hạn cho doanh nghiệp

– Tại thời điểm ghi nhận ban đầu, đơn vị “chủ động” xếp bộ phận ĐTTC đó vào nhóm phản ánh theo giá trị hợp lý thông qua lãi lỗ hoặc báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

Đối với các khoản ĐTTC được đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi lỗ thì chi phí giao dịch, lệ phí, chi phí môi giới,… không được cộng thêm vào giá trị ghi nhận ban đầu của khoản ĐTTC đó. Khoản chênh lệch giữa giá trị hợp lý và giá gốc được ghi nhận là lãi hoặc lỗ ngay tại thời điểm ghi nhận ban đầu. Với cách ghi nhận như vậy, thông tin về các khoản ĐTTC được trình bày trên BCTC sẽ đáp ứng được các yêu cầu quan trọng về tính thích hợp, tính đáng tin cậy và có thể so sánh được.

Loại thứ hai: các khoản ĐTTC dự kiến nắm giữ đến ngày đáo hạn. Các khoản ĐTTC dự kiến nắm giữ đến ngày đáo hạn là bộ phận tài sản tài chính doanh nghiệp có ý định nắm giữ trên 12 tháng và có kỳ đáo hạn cố định trong tương lai. Đối với các khoản đầu tư này, chi phí giao dịch, lệ phí, chi phí môi giới,…được tính vào giá trị của các khoản ĐTTC. Chênh lệch giữa giá trị hợp lý và giá gốc được cũng được ghi nhận là lãi hoặc lỗ tại thời điểm ghi nhận ban đầu.

Ví dụ, tại ngày 24/09/200N, Công ty A mua 10.000 cổ phiếu XYZ, mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu. Tổng số tiền phải trả 260.000.000 đồng, trong đó gồm chi phí giao dịch là 20 triệu đồng. Giả sử cổ phiếu XYZ được giao dịch trên thị trường năng động, xác định được giá trị hợp lý theo giá niêm yết tại ngày 24/09/200N là 20.000 đồng/cổ phiếu. Vậy, tại ngày 24/09/200N, ta có:

+ Nếu phân loại cổ phiếu XYZ trên là khoản ĐTTC nắm giữ để kinh doanh cho mục đích thương mại, ghi nhận ban đầu như sau:

Nợ “Chứng khoán kinh doanh” : 200trđ

Nợ “Chi phí kinh doanh chứng khoán” : 20trđ

Nợ “Lỗ kinh doanh chứng khoán” : 40trđ

Có “Tiền” : 260trđ

+ Nếu phân loại cổ phiếu XYZ trên là khoản ĐTTC nắm giữ đến ngày đáo hạn, ghi nhận như sau:

Nợ “Chứng khoán nắm giữ đến ngày đáo hạn” : 220trđ (200 + 20)

Nợ “Lỗ kinh doanh chứng khoán” : 40trđ

Có “Tiền” : 260trđ

* Thứ ba, hoàn thiện việc ghi nhận và trình bày các khoản ĐTTC trên BCTC tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán

Đến cuối kỳ kế toán, sẽ tiến hành ghi nhận chênh lệch phát sinh do sự biến động của giá trị hợp lý của các khoản ĐTTC. Các khoản chênh lệch này phát sinh do sự thay đổi giá trị hợp lý giữa các thời điểm báo cáo có thể được xử lý theo các phương án:

– Với các khoản ĐTTC loại 1, là các khoản ĐTTC được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua lãi lỗ, phần chênh lệch đó được ghi nhận vào lãi lỗ chưa thực hiện trên Báo cáo kết quả kinh doanh

Ví dụ, ngày 24/09/200N, khoản đầu tư cổ phiếu của Công ty A được ghi nhận ban đầu với giá trị hợp lý là 200 triệu đồng. Khoản đầu tư này được phân loại vào nhóm chứng khoán nắm giữ để kinh doanh cho mục đích thương mại. Đến ngày 31/12/200N, giá trị hợp lý của khoản đầu tư này được xác định là 280 triệu đồng. Chênh lệch giữa giá trị hợp lý tại thời điểm cuối kỳ và giá ghi sổ trước đó sẽ ghi vào lãi lỗ chưa thực hiện (Unrealised gain/loss) trên Báo cáo kết quả kinh doanh

Nợ “Chứng khoán kinh doanh_cổ phiếu”: 80trđ

Có “Lãi lỗ chưa thực hiện”: 80 trđ

– Với các khoản ĐTTC loại 2, là các khoản ĐTTC dự kiến nắm giữ đến ngày đáo hạn, phần chênh lệch giá trị hợp lý tại thời điểm cuối kỳ được ghi nhận tăng hoặc giảm vốn chủ sở hữu trên Bảng cân đối kế toán mà không phản ánh vào Báo cáo kết quả kinh doanh. Khi đó, việc giảm giá các khoản ĐTTC này sẽ không làm ảnh hưởng đến thu nhập và lợi nhuận của năm tài chính, nhưng trên Bảng cân đối kế toán, nhà đầu tư có thể thấy năm đó doanh nghiệp có thể vẫn có lãi nhưng bộ phận tài sản là các khoản ĐTTC đã bị hao hụt do bị tổn thất giảm giá trị. Nhờ đó, doanh nghiệp sẽ hạn chế “lách luật” để không phải trích lập dự phòng giảm giá ĐTTC nhằm đạt được chỉ tiêu lợi nhuận như mong muốn nhằm thỏa mãn các cổ đông

Ví dụ, ngày 28/09/200N, một khoản đầu tư trái phiếu của Công ty A được ghi nhận ban đầu với giá trị là 5 tỷ đồng. Khoản đầu tư này được phân loại vào khoản ĐTTC dự kiến nắm giữ đến ngày đáo hạn. Đến ngày 31/12/200N, giá trị hợp lý của khoản đầu tư trái phiếu đó được xác định là 4,8 tỷ đồng. Khoản chênh lệch giảm giữa giá trị hợp lý tại ngày 31/12/200N và giá ghi sổ trước đó là 200trđ, sẽ ghi vào Quỹ thay đổi giá trị hợp lý (Fair value change fund) trên Bảng cân đối kế toán

Nợ “Quỹ thay đổi giá trị hợp lý”: 200 trđ

Có “Chứng khoán nắm giữ đến ngày đáo hạn_trái phiếu”: 200trđ

Bên cạnh đó, trong trường hợp trích lập dự phòng giảm giá của các khoản ĐTTC được giao dịch trên thị trường UPCOM và thị trường chứng khoán chưa niêm yết (OTC) với tính thanh khoản và minh bạch thông tin rất thấp. Để tránh hiện tượng “làm giá” cổ phiếu để không phải trích lập dự phòng, thay vì sử dụng giá tham chiếu vào ngày cuối cùng của kỳ kế toán, các doanh nghiệp nên sử dụng giá bình quân đóng cửa của 10 ngày giao dịch liên tiếp liền kề trước đó làm giá tham chiếu cho các khoản đầu tư này. Trong trường hợp, 3 tháng liền kề trước đó, cổ phiếu này không có giao dịch, phải áp dụng phương pháp định giá phù hợp đối với các khoản ĐTTC trong từng trường hợp cụ thể.

Kết luận

Giá trị hợp lý ngày càng được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá và ghi nhận các yếu tố tài sản trên BCTC trong những năm gần đây. Ở Việt Nam, việc ban hành các chuẩn mực và các hướng dẫn mới về kế toán tương đối phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế trong thời gian qua đã chứng minh quyết tâm hội nhập của mình trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán với khu vực và thế giới. Mặt khác, việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp lý về kế toán sẽ góp phần tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục đầu tư vào Việt Nam và tăng cường tính minh bạch của thông tin trên BCTC. Mong rằng các cơ quan quản lý Nhà nước, Vụ Chế độ kế toán – kiểm toán của Bộ Tài chính sớm ban hành những văn bản pháp lý quy định cụ thể hơn nữa về cách thức ghi nhận và hạch toán các khoản ĐTTC, để thông tin của các doanh nghiệp ngày càng được phản ánh trung thực, khách quan phù hợp với thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế

Tài liệu tham khảo

1, Thông tư 210/2009/TT-BTC, ngày 6 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài chính, Hướng dẫn áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày báo cáo tài chính và thuyết minh thông tin đối với công cụ tài chính

2, Thông tư 228/2009/TT-BTC, ngày 07 tháng 12 năm 2009 của Bộ Tài chính, Hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp tại doanh nghiệp

3, Ernst & Young Việt Nam, Tài liệu Đào tạo cho Bộ Tài chính IAS 32, 36; IFRS 02, 07, tháng 01/2010

4. FASB, Statement No.157 “Fair Value Measurement”, 2006

5, IAS 39 “Financial Instruments: Recognition and Measurement”, 2009

ThS. Nguyễn Thành Hưng – Trường ĐH Thương mại

(Theo Tạp chí Kiểm toán số tháng 3/2011)